1. Thông tin

– Tên gọi: Nguyễn Khản (阮侃) hay Nguyễn Hân (阮欣) hay Nguyễn Lệ (阮儷)

Tước hiệu: Lại Bộ Thượng Thư Tham tụng

– Sinh ngày 16/4/1734 (tức ngày 3/3/Giáp Dần) tại Hà Tĩnh, Đại Nam (nay là tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam)

Mất năm 1787 (tức ngày 17/9) (53 tuổi) tại Thăng Long, Đại Nam (nay là Tp. Hà Nội, Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Nam

Dân tộc: Kinh

– Là chính trị gia thời Lê Trịnh trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNguyễn Quỳnh

– Ông ngoại là Đặng Sỹ Vinh

– Bố Nguyễn Thiều và mẹ là Đặng Thị Dương

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là Đặng Thị Vệ

– Có 11 người con: (6 con trai và 5 con gái)

Con trai: Nguyễn Thảng

Con gái: Nguyễn Thị Bành, Nguyễn Thị Thái

c) Hậu duệ

– Cháu nội:

– Cháu ngoại: Bùi Huy Tuấn, Bùi Huy Kiệt, Bùi Huy Hổ

3. Con người và tính cách

Các thư tịch của ông hiện đã bị thất lạc, qua những gì còn lại và lời truyền tụng trong dân gian thì ông là bậc thầy về thơ Quốc âm.

Phạm Trọng Chánh viết trong Nguyễn Khản – Quan thượng thư tài hoa: Một bậc công tử tài hoa, đỗ đạt sớm, tiếng tăm lừng lẫy, sành thơ Nôm, tài ứng đối khéo léo.

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con cả trong gia đình có 21 anh chị em (Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Trụ, Nguyễn Quýnh, Nguyễn Trừ, Nguyễn Đề, Nguyễn Nhưng, Nguyễn Du, Nguyễn Ức, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Tốn, Nguyễn Lạng, Nguyễn Nghi, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Thị Tuyết, Nguyễn Thị Ninh)

Theo Hoan Châu – Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả: Phu nhân chiêm bao thấy ở dưới mặt trời lại có mặt trời khác, bà có thai 11 tháng rồi sinh ra ông.

Đọc Nam Tống Sử liền làm bài thơ Độc Nam Tống Sử

Năm 1748 khi 14 tuổi, đỗ Tam trường. Nhân đi qua núi Dục Thúy, tuổi còn nhỏ chưa đạt đúng ý nguyện mình, ông đề thơ tỏ khí khái mình qua bài thơ Quá Dục Thúy sơn

Năm 1754 (Quý Dậu) khi 20 tuổi, đỗ Tứ Trường (Hương cống), ứng tuyển hợp cách được xếp đỗ đầu bảng. Nhân có lệ bổ dụng con các quan nên ông được nhận chức Viên ngoại bộ lại sau đó vì có tiếng học giỏi được sung chức Thị giảng ở Phủ của Chúa Trịnh Sâm, dạy học cho Thế tử Trịnh Sâm.

Năm 1757 được phong chức Lại bộ Nguyên ngoại, tuyển dạy Lượng Quốc phủ cho con chúa là thế tử Trịnh Sum.1760)

Năm 1760 (Canh Thìn), ông thi đậu Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ, Đệ nhị danh (Tiến sĩ Nho học), đổi tên Hân, được bổ làm Đốc Đồng xứ Sơn Tây. 

Phạm Đình Hổ bài Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền trong Vũ Trung tùy bút tr 174 chép: Khi ông Khản đỗ, được tứ yến ở Lễ bộ đường, thì quan Tư Đồ là Nguyễn Nghiễm đương làm quan Lễ Thị, tự tay gài bông hoa mũ cho con. Thật là một sự hiếm có, đương thời truyền tụng.

Năm 1762 mùa thu, được cử làm Giám khảo Trường thi Hương Sơn Nam. Thăng Hàm lâm Hiệu lý Tiết chế Tĩnh quốc công.

Năm 1765 Thăng Thị Thư.

Năm 1767 (Đinh Hợi) chúa Trịnh Vương ban tên Lệ. Sau khi Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên nối ngôi; được thăng lên chức Đông Các Đại học sỹ kiêm Quốc tử giám Tế tửu. Nhà ông ở gần hồ Kim Âu, xây dựng từ đời quan Tư Đồ Nguyễn Nghiễm, gọi là dinh Kim Âu, phía Nam chùa Bích Câu, phía Tây thuộc chùa Tiên Tích, (nay ở phía Tây đường Hàng Lọng, gần ga Hà Nội). Chùa Tiên Tích nguyên là của bà Hoàng chính phi tiến cung (nay còn nhưng thu bé lại).

Phạm Đình Hổ viết trong Vũ Trung Tùy Bút tr. 175: Khi chúa Trịnh Thịnh Vương (Trịnh Sâm) còn ở Lượng quốc phủ, thì ông Nguyễn Khản làm Phiên liêu, hàng ngày được vào hầu yến trong nội cung Thịnh Vương, thân thiết như bạn áo vải.

Chúa Trịnh Sâm lại thăng cho làm Tri phiên liêu kiêm quản Nhất Hùng cơ, tước Kiều Nhạc hầu. Khi ấy trong nước bình yên vô sự. Trịnh Vương lại thích ngự chơi, lúc đi thưởng hoa, lúc đi câu cá, thế nào cũng có ông Nguyễn Khản cùng đi. Khi trở về, thì ông lại mặc áo chẽn tay hẹp ra vào nơi cung cấm. Nhà chúa đặc ban cho ông được đi lại ra vào, không khác gì quan nội giám. Khi chúa Trịnh thưởng ca, thường sai Nguyễn Khản ngồi hầu. Ông đội khăn lương, mặc thường phục, ngồi ngay bên cạnh, cầm chầu điểm hát. Những ngày rỗi, chúa Trịnh lên ngự chơi Hồ Tây, kẻ thị thần vệ sĩ, bày hàng buôn bán quanh cả bốn mặt hồ, nhà chúa chỉ cùng với bà Đặng Tuyên phi ngồi trên thuyền, mà Nguyễn Khản thì ngồi hầu ngang trước mặt, cùng thưởng lãm, cười nói, không khác gì bạn bè, người nhà. Trong cung có bày bể cạn, núi non bộ và cảnh hoa đá gì, đều phải qua tay ông Nguyễn Khản chăm sóc thì mới vừa ý nhà chúa. Nhà chúa lại thường sai ông đi sửa sang các hành cung ở Châu Long, Tư Trầm, Dục Thúy. Ông có tài đục nặn núi đá, vẽ vời phong hoa, nên thường được nhà chúa ban khen. Ông lại thích nghề hát xướng, sành âm luật, thường đặt những bài hát nhạc phủ ra làm điệu hát mới; viết xong bài nào thì những nghệ sĩ ngoài giáo phường tranh nhau truyền tụng. Chúa Trịnh Vương thường ngự giá ra nhà Nguyễn Khản chơi, ông đi một chiếc thuyền nhỏ từ cừ Long Lâu ra hồ Tiên Tích rồi đến nhà Nguyễn Khản. Khi vào nhà chúa thăm hỏi cả đến vợ con, yêu mến Khản không ai bằng.

Có bài hát nổi tiếng của ông có tựa đề Án phách tân truyền lại bộ ca, gắn với câu chuyện đói đáp sau. Ông Nguyễn Khản khi làm quan, thường xin phép nghỉ ở nhà, chúa Trịnh có đưa bài thơ nôm rằng:

Đã phạt năm đồng bỏ lỗi chầu,

Lại phạt năm đồng bỏ thiếu câu.

Nhắn nhủ ông bay về nghĩ đấy,

Hãy còn phạt nữa chữa thôi đâu.

Vì khi ấy, buổi ngoại chầu và buổi ngự câu, đang lúc nghỉ, ông không tới hầu ngự được, nên đều bị phạt năm đồng. Nguyễn Khản có họa lại rằng:

Váng vất cho nên phải cáo chầu,

Phiên chầu còn cáo, lọ phiên câu.

Trông ân phạt đến là thương đến,

Ấy của nhà vua chớ của đâu.

Chúa Trịnh Sâm lấy làm khen. Một ngày kia, trong nhà ông Nguyễn Khản bày cuộc yến tiệc., thiếu chè uống. Chợt quan Trung sứ có việc ra nhà ông, ông không kịp làm tờ khải, chỉ viết tay mấy chữ: Thần Khản khuất trà nhất lạng. Quan Trung sứ đem về dâng, chúa Trịnh ban cho một hòm chè.

Năm 1768 (Mậu Tý) có chỉ giao ông kiêm luôn chức Nghiêm Hữu Đội. Với cư­ơng vị đó Nguyễn Khản là một vị quan đồng thời kiêm chức cả văn lẫn võ trong phủ chúa nên các quan trong triều đình hết sức trọng vọng.

Năm 1769 con trai đầu lòng nhà chúa là Tông quận công (Trịnh Khài) ra ở học nhà quan Nội phó Nguyễn Phương Dĩnh. Ông Nguyễn Khản và ông Lý Trần Thản được sang làm quan tả hữu tư giảng. Sau Lý công mất, ông chuyên một mình làm chức tư giảng.

Tháng 10/1770 (Canh Dần) chúa Trịnh Sâm đi tuần thú phía Tây Thanh Hóa, từng dãy núi, thắng cảnh đều có làm thơ vịnh, ông được sai đốc thúc thợ đục khắc thơ dựng nơi thắng cảnh và tu sửa Dục Thúy cung. Ông còn được giữ chức Đồn Điền sứ lộ Trường An, mộ dân đắp đê dài trị thủy ở Sơn Nam Hạ. Mua thóc lúa dự trử ở kho Dục Thúy phòng mất mùa thiên tai. Tháng 12 được thăng Thiêm Đô Ngự Sử Đài.

Tháng 10/1771 (Tân Mão), Quan Tư Đồ Nguyễn Nghiễm về hưu trí, ông được đưa cha về hồi hương. Quân Tây Sơn nổi dậy chiếm cứ từ Quảng Nghĩa đến Bình Thuận.

Tháng 1/1772 (Nhâm Thìn) cụ Nguyễn Nghiễm được triệu trở lại chính phủ. Nguyễn Khản được thăng Phó Đô Đài Ngự Sử, Ngự Sử đài. tước Kiều Nhạc Hầu.

Tháng 9/1773 (Quý Tỵ) Nhập thị Bồi Tụng, (chức vụ tương đương Phó Thủ Tướng cùng cha trong Chính phủ)

Tháng 9/1774 (Giáp Ngọ) Thuận Hóa có loạn, ông chiêu dụ được chúng quy hàng. Nhân đàng trong, chúa Nguyễn bị quyền thần Trương Phúc Loan của quân Tây Sơn chuyên chính. Chúa Trịnh Sâm phong Hoàng Ngũ Phúc làm Hữu Tướng Quân, Nguyễn Nghiễm làm Tả Tướng quân đem quân đánh lấy Phú Xuân. Quân Trịnh truyền hịch nói rằng quân Bắc chỉ đánh Trương Phúc Loan mà thôi chứ không có ý gì khác. Các quan chúa Nguyễn ở Phú Xuân bắt Phúc Loan đem nộp. Quân Trịnh thừa cơ đánh chiếm Phú Xuân. Quân Trịnh đóng quân ở Châu Ô, giáp đất Quảng Nghĩa.

Tháng 1/1775 (Ất Mùi) Nguyễn Khản làm việc tại Nghệ An kiêm Tham lĩnh Châu Bố Chính, huy động phú hộ góp thóc giúp quân. Quân nhà Trịnh bị dịch chết nhiều. Quan Tư Đồ Nguyễn Nghiễm cũng bị lây nhiễm. Nguyễn Khản phải đưa cha về làng Tiên Điền điều dưỡng, Nguyễn Nghiễm mất cuối năm ấy, Nguyễn Khản xin ở nhà lo việc tang cha. Tướng Hoàng Ngũ Phúc cũng lâm bệnh, ông xin chúa Trịnh Sâm rút về giữ Thuận Hóa. Trịnh Sâm thuận cho. Hoàng Ngũ Phúc về đến Vĩnh Dinh, Nghệ An thì mất. Chúa Trịnh sai Bùi Thế Đạt vào thay và sai Lê Quý Đôn vào làm Tham Thị cùng giữ đất Thuận Hóa. Các chúa Nguyễn bỏ trốn, Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương nhà Nguyễn bị Tây Sơn Nguyễn Huệ bắt và giết đi, chỉ còn người cháu Thái Thượng Vương là Nguyễn Phúc Ánh 17 tuổi chạy thoát lại xưng vương.

Năm 1777 (Đinh Dậu) nhà Trịnh phong Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ, Tuyên úy đại sứ, Cung quận công. Nhưng năm sau Nguyễn Nhạc lại xưng đế hiệu tại thành Đồ Bàn. Thế cục chân vạc chia ba, một giai đoạn lịch sử được Ngô Văn gia phái viết thành Hoàng Lê Nhất Thống Chí hấp dẫn gây cấn không kém gì Tam Quốc Chí của Trung Quốc. Nguyễn Khản cho đắp con đê Vân Hải (Ninh Bình). Cũng trong thời gian này xứ Nghệ An hạn hán, lũ lụt, mất mùa xảy ra thường xuyên, dân chết đói chồng chất. Trư­ớc tình hình như­ vậy, ông đã làm biểu xin triều đình thực hiện 4 điều cơ bản nhằm cứu đói cho xứ Nghệ An và được chúa Trịnh chấp thuận:

  • Dời dân Nghệ An ra Thanh Hoa khẩn hoang
  • Mở cửa biển thông thương thuyền buôn
  • Mở đường Quỳ Hợp (Hương Khê) để dân thông thương sang trấn Ninh (Lào) buôn bán
  • Mời Bắc khách chở gạo vào bán và mở xưởng đúc tiền ở Thị trấn Vinh, cho dân đổi tiền cổ lấy tiền mới.

Năm 1778 (Mậu Tuất) đổi trở lại tên Nguyễn Khản. Bấy giờ có viên phụ đạo vùng Tụ Long tên là Hoàng Văn Đồng nổi loạn xưng vương. Tụ Long là nơi sản xuất đồng rất tốt. Đời Lê có bia biên giới ở phía Bắc xứ ấy. Khi Pháp chiếm Bắc Kỳ, quân Thanh cũng thừa thế chiếm Tụ Long (nay thuộc Vân Nam ở phía Bắc Hà Giang). Tĩnh Vương ủy toàn quyền cho ông coi các trấn Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn; thống lĩnh các đạo quân đi dẹp giặc. Tháng 8 kéo quân lên đóng đồn Ngọc Chúc, rồi ngược bờ sông Cháy, đến địa phận Tụ Long. Hoàng Văn Đồng chia quân giữ các chổ hiểm. Ông sai em là Nguyễn Điều đi xuyên qua đất Thanh, đánh tập hậu. Giặc tan, nhưng Hoàng Văn Đồng chạy thoát. Ông đư­ợc phong tước Hồng Lĩnh hầu, thăng chức Hình bộ tả Thị lang và làm Hiệp trấn thủ xứ Sơn Tây – Hưng Hoá kiêm chức thống lĩnh các đạo quân dẹp loạn ở ngoài vùng biên ải. Chính sự được yên ổn đem lại bình yên cho dân bản xứ. Với những việc làm của Nguyển Khản uy thế của ông ngày một lớn được Trịnh Sâm tin cậy giao nhiều trọng trách của triều đình. Ngoài quan hệ chúa thư­ợng bề tôi giữa Trịnh Sâm và Nguyễn Khản còn có mối quan hệ bạn bè thân thiết. 

Tư­ơng truyền dinh thất của Nguyễn Khản trong nhà trần thiết kế trang hoàng, mỗi bức tranh khung cảnh, tấm khảm là sự ghi chép sự tích truyền kỳ, điển cố thi vị văn chương, dinh thất có hoa viên được trồng các loại hoa thơm, cỏ lạ, có cung thưởng nguyệt, có lầu nghe nhạc, thư viện đọc sách với cách bài trí hài hoà trang nhã cho biết chủ nhân có khiếu thẩm mỹ tinh tế. Chúa Trịnh thường tự cất bước bộ hành tới đây cùng chủ nhân thưởng ngoạn bình phẩm cảnh trí, toạ đàm thơ ca. Trịnh Sâm đã tự tay đề ở ngôi nhà riêng Nguyễn Khản 3 chữ: Tâm phúc đường. Nguyễn Khản được chúa ban ân theo ngự giá đi săn, đi câu, tắm sông thưởng nguyệt, đêm hội Long Trì chỉ riêng Nguyễn Khản là người được ngồi cùng mâm với chúa.

Trịnh Vư­ơng rất sủng ái tuyên phi Đặng Thị Huệ khi bà sinh con trai Trịnh Vư­ơng có ý dành ngôi Thế tử của con trư­ởng Trịnh Tông cho Trịnh Cán. Được tin Nguyễn Khản tham mưu đảo chính giúp Thế tử Trịnh Tông. Việc bại lộ Trịnh Sâm chỉ gọi ông về triều, những người cùng mưu bị hành hình nhưng Nguyễn Khản được tha tội chết.

Năm 1779 (Kỷ Hợi) mẹ ông là bà Đặng Thị Dương mất tại Thăng Long. Ông bèn xin rút quân về nghỉ. Chưa được ít tháng thì vợ ông bà Đặng Thị Vệ cũng mất luôn.

Năm 1780 cùng em là Trung Đình Công Nguyễn Điều trấn thủ Tuyên Quang. Chúa Trịnh Sâm mê bà Tuyên phi Đặng Thị Huệ, có con trai là Trịnh Cán (1777). Dựa vào thế viên tả tướng Hoàng Đình Bảo, Đặng Thị Huệ khuyên chúa bỏ Trịnh Tông lập Cán lên làm thế tử. Nguyễn Khản và Nguyễn Khắc Tuân có ý bênh Tông. Khản ra trấn Sơn Tây, Tuân trấn Kinh Bắc đều có ý dự bị binh lực để đối phó Hoàng Đình Bảo khi chúa Trịnh Sâm mất. Âm mưu bại lộ vì Ngô Thời Nhậm. Cho nên Nguyễn Khản và Nguyễn Khắc Tuân đều bị giam. Lê Quý Đôn tra xét vụ án, các can phạm trong vụ án này đều bị giết. Chỉ có Nguyễn Khản, chúa nghĩ tình cũ tha cho, bắt an trí nhà Châu quận công. Ông làm khúc tự tình bằng thơ Nôm, kể lại nỗi lòng, Chúa Trịnh đọc bài này dần dần bớt giận. Có lẽ trong thời gian này ông có thời gian để dịch bài thơ Chinh phụ ngâm ra chữ Nôm.

Năm 1782 Trịnh Sâm mất, quân lính nổi dậy rước Trịnh Khải lập lên ngôi chúa thay Trịnh cán lấy hiệu Đoan Nam Vương. Trịnh Khải liền cho vời Nguyễn Khản về triều giao cho làm Lại bộ Thượng thư, tước Toản Quận Công.

Năm 1783, Nguyễn Khản được phong tước chức Thiếu bảo. Mùa thu do cha mất, Hồ Sĩ Đống phải xin từ chức về thọ tang cha. Nguyễn Khản được cử Nhập thị Tham Tụng (tể tướng), giao lĩnh (chỉ huy từ xa) Trấn thủ Thái Nguyên, kiêm Đổng lý cương sự (việc biên cương) xứ Hưng Hóa. Tại Thái Nguyên, Nguyễn Khản giao quyền Trấn Thủ cho Nguyễn Đăng Tiến, tức Cai Già, tước Quản Vũ Hầu, một tân khách, dạy võ cho các em (Nguyễn Du, Nguyễn Ức..) gốc người Việt Đông, Quảng Tây. Nguyễn Du chức Chánh Thủ Hiệu Quân Hùng Hậu hiệu. Nguyễn Quýnh chức Trấn Tả Đội. Tại Hưng Hóa, con rễ Nguyễn Huy Tự làm quyền Trấn Thủ, có Nguyễn Trứ làm Tri huyện. Tại Sơn Tây, Nguyễn Điều thay làm Trấn Thủ, phụ tá bởi Nguyễn Nể làm Hợp Tán Nhung vụ.

Tháng 2/1784 (Giáp Thìn) Kiêu binh rước Tự Hoàng (Lê Chiêu Thống) từ nhà giam lên làm Hoàng Thái Tử. Cậy công trạng, kiêu binh xin vua Lê Hiển Tông tưởng thưởng. Nhà vua sai bắt cá trám trong hồ làm gỏi thết đãi kiêu binh. Khi chư quân đang quần tụ ăn uống, thì có người phi báo với Đoan Vương Trịnh Tông. Chúa Trịnh nghị sự cùng Nguyễn Khản và Dương Khuông và triều đình. Nguyễn Khản xin sai người đến bắt và giết đi. Chúa Trịnh bèn sai Chiêm vũ hầu Nguyễn Triêm đem quân lính hiệu Phong Lôi đi bắt. Kiêu binh thấy lính phủ chúa đến bắt, bỏ trốn. Chiêm Vũ Hầu bắt được 7 tên giải về phủ chúa. Triều đình nghị sự, Dương Khuông và Nguyễn Khản bàn luận: Đem chém, bêu đầu. Kiêu binh nổi giận, căm phẩn kéo nhau vây bắt. Dương Khuông, Chiêm Vũ Hầu trốn vào phủ chúa. Chiêm tự nguyện ra chịu chết, Chúa Trịnh và mẹ khẩn hoản lo lót, kêu nài cho cậu thoát chết. Nguyễn Khản chạy thoát lên Sơn Tây. Kiêu binh phá tan dinh và nhà ba người này. Nguyễn Khản bàn mưu cùng Nguyễn Điều toan đem quân các trấn về dẹp kiêu binh, mưu đem chúa Trịnh và cung phi ra khỏi kinh thành, nhưng việc bại lộ, kiêu binh giữ chặt chúa Trịnh nên các trấn không làm gì được. Hồ Sĩ Đống, được gọi về cùng Bùi Huy Bích đối phó với kiêu binh, việc tạm yên. Nguyễn Khản, Nguyễn Điều bị bãi chức về Hà Tĩnh.

Năm1785, Trịnh V­ương lên ngôi các quân lính cậy thế có công phù lập Trịnh Vương nên rất kiêu hãnh kéo nhau vào phủ chúa đòi phong chức. Nguyễn Khản cùng dự mưu xin chúa bắt chém 7 tên cầm đầu nên bị kiêu binh kéo đến đốt phá nhà riêng. Nguyễn Khản cùng em là Nguyễn Điều trốn lên Sơn Tây gửi mật th­ư cho Trịnh Vương xin hội binh các Trấn để trừ hoạ kiêu binh như­ng việc bị tiết lộ ông cùng Nguyễn Điều xin nghỉ trở về quê nhà. Trịnh Vương thường viết thư thăm hỏi và ban thuốc men tiền bạc, cho lấy thuế 2 chiếc tàu buôn người Bắc Quốc để chi dùng. Đó là những đặc ân chúa dành cho Nguyễn Khản.

Tháng 5/1786 (Canh Ngọ) Nguyễn Hữu Chỉnh, thuộc tướng của Hoàng Ngũ Phúc, nhân Hoàng Đình Bảo bị giết vào đầu hàng Tây Sơn. Biết tình hình Phú Xuân quận Tạo Phạm Ngô Cầu là tướng bất tài, đa nghi, tham lam nên khuyên Nguyễn Huệ đem quân đánh Phú Xuân. Chỉnh dùng mưu viết thư dụ hàng gửi Phó Tướng Hoàng Đình Thể, nhưng vờ đưa lầm cho Chánh Tướng Phạm Ngô Cầu. Lại sai một thám tử giả làm người nói chuyện thuật số: nào phúc lộc hậu vận quận Tạo nhiều không sao nói xiết, duy có điều là gặp năm xung tháng hạn không may, nên cúng lễ cầu đảo thì được tốt lành. Quận Tạo tin theo lập đàn cúng tế suốt 7 ngày đêm khiến quân sĩ phục dịch mỏi mệt. Nguyễn Hữu Chỉnh biết tình hình, cho quân Tây Sơn tiến lên, quân thủy bộ quận Tạo bỏ trốn. Chủ tướng và phó tướng nghi kỵ không tiếp ứng nhau; Phú Xuân bị Tây Sơn chiếm nhanh chóng. Nguyễn Hữu Chỉnh đem tiền quân Tây Sơn chiếm kho lương thực Vị Hoàng, quân Tây Sơn tiến đánh Thăng Long.

Ngô Cao Lãng trong Lịch Triều Tạp kỷ tập II chép: Bấy giờ có cựu tham tụng Nguyễn Khản ở Nghệ An ở Nghệ An ra khuyên Đoan Vương: Nên sai tướng đóng giữ kinh thành. Còn chúa thì rước xa giá vua Lê đi Sơn Tây, không chế miền thượng du để toan tính việc cử sự sau này. Vả lại ở bãi Tự Nhiên (Thường Tín, Hà Đông) kíp thả cầu phao để chặn thủy sư của giặc. Hai bên bờ sông đóng đồn quân theo lối “vẩy sộp” để đề phòng có sự xô xát xung đột. Lại xin chiêu dụ bọn giặc thủy như Trương Dao và Ba Bá, ban thêm quan tước cho chúng, khiến chúng chặn đánh phía sau quân Thủy Tây Sơn. Huệ và Chỉnh đã nêu danh nghĩa phò Lê, nhưng khi vào kinh thành không gặp được Lê hoàng thì tiến hay lùi cũng đều bất lợi. Một khi giặc mỏi mệt, hết lương ăn, tình thế tất không ở lâu được. Bấy giờ ta kíp viết thư phi báo cho các hào mục Thanh Hóa và Nghệ An khiến họ chận đánh đường về của Tây Sơn thì dù không bắt được Huệ, Chỉnh, chúng cũng bị thiệt hại nặng. Chứ nếu giao chiến với chúng thì kiêu binh (của ta) quyết không thể dùng được. Nếu thua một trận hết sạch như chùi, việc nước tất hỏng mất. Chúa toan nghe theo mưu chước của Khản, nhưng các quân họp lại, làm ầm lên, cho rằng Khản đưa giặc đến, rồi chực giết Khản.

Nguyễn Khản phải xin đi Sơn Tây, Hưng Hóa chiêu dụ nghĩa sĩ, được một tuần quân ứng mộ khá đông ông giao cho em là tri phủ Nguyễn Trứ điều khiển tại Mỹ Lương.

Năm 1787 quân Tây Sơn tiến ra Bắc, Nguyễn Khản trở về Kinh Đô tập hợp triều thần bàn chuyện chống lại quân Tây Sơn, mọi việc đều được Trịnh Vương nghe theo nhưng việc chư­a thành thì ông bị cảm bệnh và mất tại Thăng Long. Chúa Trịnh tế ở linh tiền, cấp cho 50 lạng bạc tử tuất.

Năm 1791 thi hài được cải táng về quê nhà ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, Việt Nam.

5. Tác phẩm và công trình tiêu biểu

– Văn

Dịch sang bản Nôm Chinh phụ ngâm của Đăng Trần Côn

Tam thiên tự lịch đại văn Quốc âm – Nhóm văn Cúc Lâm cư sĩ

Đọc Nam Tống Sử

Qua núi Dục Thúy

Tự tình khúc

– Nhạc

Ân phánh tân truyền Lại bộ ca

6. Giải thưởng và tôn vinh

Được Trịnh Vương ban cho thuỵ là Hoành Mẫn hiệu Thuật Hiên tiên sinh, phong làm Thượng Đẳng phúc thần Xiển Văn dương, Võ phụ Đức đại vương.

7. Tham khảo

– Internet

vi.wikipedia.org

vanhoanghean.com.vn

vusta.vn

– Ấn phẩm

Vũ trung tùy bút – Phạm Đình Hổ

Hoan Châu – Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *