Ngô Thế Vinh (1803 – 1856)

1. Thông tin

– Tên huý: Ngô Thế Vinh (吳世荣)

Tự: Trọng Phu hay Trọng Nhượng hay Trọng Dực (仲翼) hay Trọng Tử

Hiệu: Kính Trai hay Dương Đình (陽亭) hay Hải Triều

Biệt hiệu: Trúc Đường (竹堂) hay Tiều Phu hay Khúc Giang

Thuỵ hiệu: Đôn Nhã

– Sinh giờ Mùi, năm 1803 (27/6/Quý Hợi) tại xã Bái Dương, huyện Nam Trân, phủ Thiên Trường, trấn Nam Định, Việt Nam (nay là thôn Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, Việt Nam)

Mất giờ Hợi, năm 1856 (19/9/Bính Thìn) (76 tuổi) tại Đại Nam (nay là Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

– Là chính trị gia thời nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNgô Đình Trạcbà nộiNguyễn Thị Liên

Ông ngoại là Vũ Nhã Lương

– Bố Ngô Huy ThiểmmẹVũ Thị Tố

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là Vũ Thị Phương

– Có 11 người con: (8 con trai và 3 con gái)

Con trai: Ngô Lý Cát, Ngô Lý Hanh, Ngô Lý Nhu, Ngô Lý Tín, Ngô Lý Dịch, Ngô Lý Sang, Ngô Lý Khiêm và Ngô Lý Diên

Con gái: Ngô Thị Tình, Ngô Thị Trang và Ngô Thị Thành

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Ngô Huy Trình, Ngô Quang Chiến, Ngô Quang Thiệu, Ngô Thiện Kế, Ngô Xuân Thường, Ngô Quang Chước, Ngô Huy Hiến và Ngô Văn Nghị

3. Cuộc đời và sự nghiệp

Con thứ 2 trong gia đình 2 anh em (Ngô Thế Mỹ và Ngô Thế Vinh)

Nhà Nguyễn – Gia Long 2

Từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, được gia giáo rất nghiêm.

Được cha gửi đi học Nguyễn tiên sinh Quốc tử Giám giám sinh; lại theo anh trai về Bắc Thành học Đỗ tiên sinh ở Nhân Mục, Lê Tiên sinh ở Bạch Trai (Bột Thượng)

Đến xin học với Lập Trai Phạm tiên sinh. Lúc này, tiên sinh bị ốm, không nhận học trò, người học chỉ đem văn đến cho tiên sinh sửa. Nhưng ông đến thì tiên sinh nhận ngay. Tiên sinh nói:

Người này văn chương hàm súc. Nếu ngày ngày gắng sức nghiền ngẫm sách vở thì ắt thành tài

Năm 1809 (Kỷ Tỵ) khi 16 tuổi, lấy vợ

Nhà Nguyễn – Minh Mạng 3

Năm 1822 (Nhâm Ngọ) khi 19 tuổi, ở nhà cư tang cha. Bèn nghĩ: Làm con nối theo chí của cha, noi theo việc của cha, không gì bằng tu tiến kịp thời, nhưng thầy đã già, nhiều bệnh, khó có thể học cho tới khi thành tựu.

Năm 1823 (Quý Mùi) khi 20 tuổi, mặc áo tang vào thành ở, lúc rỗi thì hỏi bài thầy.

Năm 1825 (Ất Dậu) từ biệt thầy về dự thi Hương, đỗ Tú tài (tường sinh)

Năm 1828 (Mậu Tý) đỗ Cử nhân (Giải nguyên)

Năm 1829 (Kỷ Sửu) đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân. Nhậm chức Biên tu viện hàn lâm, rồi được thăng tri phủ phủ Định Viễn

Năm 1831 (Canh Dần) Các quan bộ Lễ đề cử làm Viên ngoại lang bộ Lễ. Khi đến kinh, vì 3 lần bọn Đồ bà đến cướp phá hải phận phủ hạt nên bị giáng lưu, trở lại lỵ sở cũ. Trong lúc đi đường, viết 2 tập Nam hành và tác phẩm Tiền biệt trúc, hậu biệt trúc.

Năm 1832 (Nhâm Thìn) được thăng Lễ bộ Viên ngoại lang, rồi được thăng Thự Lang trung bộ Lễ. Hết sức khuyên các quan bộ tâu xin sửa đổi quy chế phép thi, mong được cải thiện về lối cử nghiệp cũ kỹ quy mô nhỏ hẹp. Tham khảo sách nước ngoài, muốn biên soạn Tứ thư Ngũ kinh để tiện dạy cho người mới học, đã soạn được 2 bộ Đại học và Trung Dung

Năm 1833 (Quý Tỵ) được bổ chức Hàn lâm viện Thị độc, sung vào nội các. Thời gian sau được giao chức Lễ bộ Lang trung.

Năm 1834 (Giáp Ngọ) khoa thi Hương thứ 15, được bổ sung về trường thi Hà Nội làm giám khảo. Đến trường thứ ba có một quyển văn lúc sơ khảo phê yếu. Đồng viên giám khảo Phạm Đình Tuấn cũng chuẩn y. Ngoại trường đưa lên hạng ưu. Tự thấy hối hận là không xem kỹ, xin theo ngoại trường đổi lại. Quan trường vụ nói không hợp với trường quy. Vua giao các quan luận tội. Bị cách chức. Đành chia tay các tri thức trong kinh đô để về quê. Quyến luyến hơn một tháng trời không đi được. Quan Thị lang Hà Phương Trạch rất quý trọng, liền đem tặng thiên Thập vi du (mười là nhiều) và gả con gái cho.

Năm 1835 (Ất Mùi) mùa xuân, về quê giáo dục con cái và dạy học trò. Cùng anh trai Thế Mỹ nhàn vui thi phú.

Năm 1840 (5/Canh Tý) viết điều lệ trong họ Ngô.

 Nội dung như sau:

Điều 1: Trong họ có người nào sinh con trai tròn năm trở lên mang giầu rượu, tiền xanh 1 tiền đến nhà trưởng nam kính cáo trước từ đường, gọi là Vọng họ. Lễ xong xin đăng cai ghi tên người con đó vào sổ.

Điều 2Trong họ người nào thi đỗ đều chiếu theo hạng cúng tiến một khoản tiền gọi là tiền phụ tự.

Đỗ tú tài cúng 1 quan tiền; Cử nhân 2 quan tiền; Tiến sỹ 6 quan trở lên, không câu lệ định mức. Khi làm quan ơn lộc nước thì việc phụng sự tiên tổ, ghĩ đến việc hiếu thì việc cúng ruộng hoặc tài sản nào đó cũng không hạn định.

Điều 3Trong họ có con gái đi lấy chồng, ngày ăn hỏi cúng 3 mạch và lễ phẩm tuỳ theo, đến cáo từ đường như tục lệ tiền lót đường.

Điều 4Lễ phẩm việc vọng họ, lót đường, 2 khoản đó do trưởng nam thừa huệ. Riêng tiền, trữ lại đầy 1 quan thì trình nộp cho chi họ để sinh lãi.

Nhà Nguyễn – Thiệu Trị 3

Năm 1843 (Quý Mão) anh trai qua đời. Mở trường học đặt tên là Dương Đình. Nguỵ ông thiện phủ làm Bố chánh sứ, mời về bàn luận văn học, rồi thành bạn thân thiết, làm bài ký về trường học, lại gọi cháu họ từ Hà Tĩnh ra để học. Học trò bốn phương đến học ngày càng nhiều.

Xin thêm tự Trong Phu, rồi đến Trọng Nhượng. Khi Hiệp biên, Đại học sỹ Mai Xuyên Phan đặt là Trọng Dực. Mừng nói:

Thế là hợp với tôi rồi.

Nhà Nguyễn – Tự Đức 6

Năm 1852 (16/Giêng/Nhâm Tý) mẹ mất. Ở nhà làm đạo nghĩa, các xã như Hải Thiện (Hưng Yên), Quần Anh đến mời về dạy học nhưng đều từ chối.

Quan Hộ đốc Thượng hiến Nguyễn Phương Hiên làm sớ xin dùng lại những người đã bị cách chức, xét ban phẩm hàm.

Năm 1856 (Bính Thìn) được làm Đốc học tỉnh Nam Định, làm khuôn phép cho sỹ tử. Sau đó được chiếu chỉ phê chuẩn cho tiêu chuẩn dịch trạm, cấp lộ phí đến kinh chờ khảo xét. Nghe lệnh rồi chờ đợi mệnh, nhưng bị bệnh liền xin chuyển tờ tâu lên vua. Vua chuẩn cho được nghỉ ngơi, lại ban tiền cho dùng hàng ngày, rồi đến khi nào khoẻ bộ sẽ tâu lại.

Bộ ty dẫn đến chờ ở nha sở để ứng chế. Trong 4 ngày liền, mỗi ngày 2 lần ban chè uống, cơm ăn. Quan thị vệ đại thần ban phát đề mục vua ra. Đại khái như thể văn tứ trường. Kỳ thứ nhất chế ngự 9 đề chỉ xem 4 đề. Lược y Tô Thị thủ thuyết để làm. Trước đã gửi tờ tấu loại văn bát cổ trước nay chưa hề được tập. Lược vấn 21 điều, trả lời tường tận 3 câu trong Hiếu kinh, Hán thư và Chu lễ, còn các loại khác như Lão Trang, Sở từ, Nhĩ nhã, Tuân Dương, quốc ngữ, võ, kinh… thì không dám trả lời. Kỳ thứ 2 thi sách vấn 3 điều. Kỳ thứ 3 sách vấn đạo luật 1 thiên, giải 1 thiên, sách luận 2 thiên, kính cẩn nộp quyển. Còn đề tiến học giải thi tâu lên, không thể soạn được. Kỳ thứ 4, phải làm một bài phú, 4 bài thơ. Nguyên nộp bản thi lên, sắc cho ty cần tín chép lại chân phương, phải trình quyển mực giao cho quan nội và các cơ mật viện đại thần duyệt trình lên vua. Một ngày khác chờ ở Chánh điện tả vu, nhận sách của Mai Thượng Doãn trĩ sĩ triều nhà Thanh, tập văn của các triều thần để chú thích các điền sự và chữ lạ, và ý từng đoạn của tác giả. Ngoài ra còn làm tờ tấu trong đó nói Học vấn còn nông cạn, nguyên sách không ghi nên không dám chú miễn cưỡng. Sau đó được khai khôi phục Tiến sỹ xuất thân. Cho ở nguyên tịch, cấp thêm 2 lượng bạc. Lại cho về quê.

Về nhà mấy tuần thì bị cảm, bệnh ngày một nặng, học trò cúng cầu cho thì có thể đọc sớ cho học trò viết. Cử nhân Vũ Quang Hiển xin đặt tên thuỵ, bèn nói tự đặt thuỵ là khó. Con cháu đến chầu xung quanh, hỏi về hậu sự, chỉ nhìn không trả lời.

Ngày (19/9/Bính Thìn) mất tại gian giữa. Hộ đốc Nguyễn Các Hạ tra từ điển tên thuỵ và đặt là Đôn Nhã

4. Vinh danh và giải thưởng

Học trò đỗ đạt như Bảng nhãn Phạm Thanh, Thám hoa Nguỵ Khắc Đản

Năm 1856 (18/11/Bính Thìn) mai táng tại cánh đồng trong làng.

Phố Ngô Thế Vinh thuộc khu tái định cư Bãi Viên – Phúc Tân.

5. Công trình và tác phẩm tiêu biểu

– Thơ

Bách quan tạ biểu

Bái Dương Ngô tiên sinh thi tập

Bùi gia Bắc sứ hạ văn thi tập

Ca trù thể cách

Cao Bằng ký lược

Chu tiên sinh hành trạng thảo

Chư đề mặc

Danh biên tập lục

Dương Đình phú lược

Dương Đình phú phả

Dương Đình tang sự thi trướng đối liên tập

Dương Đình thi trướng tập

Dương mộng tập

Đại Nam bi ký thi trướng bảo tập

Đối liên sao tập

Giai văn tập ký (in chung với Phan Đình Phùng)

Hoàng triều văn tập

Hoàng Việt Thái phó Lưu quân mộ chí

Nam hành tập (2 tập)

Sơn đường khánh thị tập

Tập mỹ thi văn

Thần dân biểu lục phụ Bùi gia bắc sứ hạ văn thi tập

Thi phú tạp sao

Thuý Sơn thi tập

Tiên đan tuỳ bút chư gia thi tập hợp đính

Trúc Đường tiên sinh thi tập phụ tạp liên trướng

Trúc Đường trường văn sách

Trướng đối cập ứng chế văn

Trướng đối tạp lục

Tùng trúc liên mai tứ hữu

Ức Trai di tập

Yên hành khúc.

Tiền biệt trúc, hậu biệt trúc

Trúc đường tuỳ bút

Nũ nhân tân thư

Trúc Đường Chu Dịch tùy bút,

Trúc Đường thi văn tùy bút.

Trúc Đường trường văn sách.

– Sách

Chuẩn định Hương Hội thi pháp (đồng biên soạn)

Bái Dương Ngô Thế Vinh kinh hồi tiễn hành thi tập.

Bái Dương Ngô tiên sinh trường thi tập

Bái Dương phú lược

Bái Dương thi tập

Bái Dương thư tập

Bái Dương Tiến sĩ Ngô tiên sinh thi tập

Dương Đình phú tuyển

Dương Đình thi phú văn tập

Hoàng các di văn

Khái đồng thuyết ước nhuận sắc (2 quyển, 1853, hợp soạn cùng Phan Vọng)

Khảo xích đạc bộ pháp

Khúc Giang Ngô Dương Đình văn tập

Luận thức đại lược

Nam Chân vịnh

Ngô Dương Đình văn tập

Nguyễn triều tấu biểu

Nhị Đào công từ bi

Nữ huấn tân thư

Thượng dụ huấn điều (đồng biên soạn)

Tống sử lược

Trúc Đường chu dịch tuỳ bút

Trúc Đường khoá sách

Trúc Đường phú tập

Trúc Đường phú tuyển

Trúc Đường thi văn tập (竹堂詩文集)

Trúc Đường thi văn tập tuỳ bút

Trúc Đường thi văn thảo

Trúc Đường tuỳ bút.

* Soạn đến 72 bộ sách

– Bản dịch

Chức cẩm hồi văn của Tô Huệ

– Đề tựa – phê bình:

Ức Trai di tập của Dương Bá Cung

Tốn Phủ thi tập

– Hiệu đính:

Hoàng Việt sách tuyển

Kiểu đại vương thượng đẳng thần ký lục

Long kiều linh ứng thánh chiêu Kiểu đại vương thượng đẳng thần ký lục

6. Tham khảo

– Internet

traonha.wordpress.com

hongonamduongnamdinh.com

wikipedia.org

tranmygiong.plogspot.com

vanhanhpagode.nl

thivien.net

– Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (Đinh Dậu 1477, niên hiệu Hồng Đức Lê Thánh Tông)

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *