1. Thông tin

– Tên gọi: Trịnh Tùng (鄭松)

Tước hiệu: Bình An vương (平安王)

Tên hèm: Ruệ Vũ

Thụy hiệu: Triết Vương (哲王)

Miếu hiệu: Thành Tổ (成祖)

– Sinh ngày 19/12/1550 (12/11/Canh Tuất) tại làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, phủ Thiệu Hóa, trấn Thanh Hóa, Đại Việt (nay là làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam)

Mất ngày 17/7/1623 (20/8/Quý Hợi) (73 tuổi) tại Thanh Oai, Đông Kinh, Đàng Ngoài, Đại Việt (nay là Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

– Là chính trị gia thời nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nội là Trịnh Lâu và bà nội là Hoàng Thị Ngọc Đốc

Ông ngoại là Nguyễn Kim

– Bố là Trịnh Kiểm và mẹ là Nguyễn Thị Ngọc Bảo

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là Lại Thị Ngọc Nhu, Đặng Thị Ngọc Bảo, Bùi Thị, Tô Thị, Ngô Thị Ngọc Lâm,…

– Có ? người con: (19 con trai)

Con trai: Trịnh Túc, Trịnh Tráng, Trịnh Xuân, Trịnh Lâm, Trịnh Vân, Trịnh Dương, Trịnh Giai, Trịnh Lệ, Trịnh Hàng, Trịnh Triều, Trịnh Tuân, Trịnh Điện, Trịnh Trà, Trịnh Trinh, Trịnh Nha, Trịnh Quảng, Trịnh Quân, Trịnh Quang và Trịnh Tương

Con gái: Trịnh Thị Ngọc Trinh, Trịnh Thị Ngọc Dung

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Nhuệ Quận công, Quế Quận công, Trịnh Hắc, Trịnh Tượng, Trịnh Tạc, Trịnh Đồ, Trịnh Bảng, Trịnh Trân, Trịnh Liêm, Trịnh Thức, Trịnh Lệ

– Cháu ngoại: Phan Thị Ngọc Thương, Lê Duy Kỳ

3. Con người và tính cách

Vi.wikipedia.org viết: Ông là người tài đức, anh hùng nhất đời, có thể nối được chí cha, giúp nên nghiệp đế […] Trịnh Tùng sớm bộc lộ thiên tài quân sự bẩm sinh, “thần cơ diệu toán”, bách chiến bách thắng. Ông phải gánh vác trọng trách quốc gia đang vận suy sụp, “trứng treo đầu đẳng” khi vừa mới tròn 20 tuổi […] chỉ trong già nửa thời gian ấy, Trịnh Tùng đã đưa công nghiệp “phò Lê” dang dở của cha về đến đích vẻ vang, oanh liệt. Ông đã kết thúc mỹ mãn sự nghiệp trung hưng đầy gian truân, “ca khúc khải hoàn” đưa vua Lê trở lại ngai vàng nơi đế đô Thăng Long. Là người mở nền “Thái bình cho trăm họ”, an dân, dựng lại nguyên khí Đại Việt sau gần 100 năm lầm than, suy kiệt.

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư viết: …tài đức hơn người, anh hùng nhất đời có thể nối được chí cha giúp nên nghiệp đế. Công trung hưng nhà Lê thực dựng nền từ đấy.

Sách Lịch triều hiến chương loại chí (phần Nhân vật chí) của sử gia Phan Huy Chú đánh giá: Ông tính khoan hậu, yêu người, khéo vỗ về tướng sĩ, đoán tình thế của giặc không sai, dùng binh như thần. Trong 20 năm kinh dinh đất nước, cuối cùng dẹp được kẻ tiếm nghịch, khôi phục nhà Lê, công trùm thiên hạ, oai lừng khắp nơi, mới được sắc phong vẻ vang, lễ đãi long trọng. Ông thực sự làm chúa cầm quyền bính, công lao sự nghiệp danh vọng lừng lẫy.

Theo giáo sĩ Alexandre de Rhodes …(Chúa) trị nước rất khôn khéo, dùng võ lực rất hùng mạnh, lại rất kiên trì và chịu đựng gian khổ do chiến tranh trong 40 năm thì sau cùng đuổi được quân nghịch thần đã cướp đoạt bốn tỉnh trong nước và hạ được cường bạo lập ngôi vương. Thanh thế ông vang lừng và ông bắt toàn dân Đàng Ngoài phải đồng tình để cho ông lấy danh hiệu Vương, tiếng chữ Hán có nghĩa vua, theo tiếng Đàng Ngoài. Thế là chính nhà vua trị vì lúc đó cũng chấp nhận, không những để ông lấy danh hiệu là chúa mà còn nắm hết chức vụ và mọi quyền, và mọi người cũng bằng lòng.

Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục thường phê phán Trịnh Tùng là một gian thần ức hiếp vua, và nhận xét về việc lập Lê Thế Tông năm 1573 của Trịnh Tùng: là vì Trịnh Tùng chỉ cốt lợi rằng vua còn thơ ấu đó thôi. Trịnh Kiểm tuy chuyên quyền nhưng tội ác chưa có gì tỏ rõ cho lắm; đến Trịnh Tùng mới thật là gian thần như đồ Vương Mãng và Tào Tháo.

Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần nhận định: Dựa vào công lao trước của cha. Trịnh Tùng có công rất to, mà mang tội cũng nặng lắm. Không làm như vậy thì không đủ để diệt nhà Mạc mà phù Lê được. Mạc tuy bị diệt rồi, nhưng Trịnh lại lù lù ở đó thì cũng lại là một Mạc (thứ hai) nữa thôi! Nhà Lê lúc bấy giờ cũng chẳng khác gì nhà Chu bên Trung Quốc chỉ ngồi giữ ngôi. Khi ấy bề tôi đầy cả một triều đình vậy mà không hiểu tại sao lại để sự tệ hại chất chứa đến như thế. Từ khi Tùng làm việc bạo ngược là giết vua, sách này chỉ chép là Trịnh Tùng không mà thôi, tất cả quan tước của hắn đều bị tước bỏ. Đến đây hắn còn cả gan xưng Vương, thì không còn chê trách nào nặng nề hơn được nữa, bèn tước bỏ họ của hắn (chỉ chép tên Tùng mà thôi) […] Sử gia xưa chê Trịnh Tùng lộng quyền, quả có thế thật, nhưng nếu không như vậy, chưa dễ đã có vua Lê, cho dẫu là ngôi suông. Thời loạn, mọi sự không thường đều là sự thường đó thôi.

Tiểu thuyết gia Nguyễn Khoa Chiêm trong tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí của mình có đề bài thơ: Thương xót Lê hoàng vận bĩ là!/Rồng thần thất thế gặp yêu xà/Anh hùng ít kẻ giúp triều chính,/Tiếm loạn nhều tay rắp gian tà,/Trịnh Xuân ví thử mưu chắc thắng,/Định Đế nào đâu phải khóc la./Kìa xem con bố tru diệt lẫn,/Mới biết lòng trời bỏ Trịnh gia.

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con thứ 2 trong gia đình ? anh em (Trịnh Cối, Trịnh Tùng, Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng, Trịnh Ninh, Trịnh Thị Ngọc Xuân, Trịnh Ngọc Tôn)

Thế kỷ X

Triều Lê Trung hưng và Mạc Tuyên Tông, Thuận Bình thứ 2

Tháng 4/1565 khi 15 tuổi, cùng anh trai khác mẹ là Trịnh Cối theo cha tiến đánh phủ Trường Yên của nhà Mạc, giành được ưu thế. Nhưng bị Mạc Kính Điển dùng mưu lẻn đánh úp Thanh Hoa đang trống không nên phải rút về.

Năm 1568 khi 18 tuổi, được nhận phong Phúc Lương hầu, đặc ân cho đeo ấn bình đông, mở phủ riêng

Năm 1569 khi 19 tuổi (mùa đông) Trịnh Kiểm già yếu, xin trí sĩ, Lê Anh Tông có chiếu cho con trưởng là Trịnh Cối giữ binh quyền.

Ngày 24/3 Trịnh Kiểm bệnh nặng rồi qua đời, nhà vua đưa Trịnh Cối lên thay quản lĩnh quân đội. Thế nhưng Trịnh Cối lại sa vào tửu sắc, không quan tâm đến công việc, khiến các tướng dưới quyền đều bất mãn. Cối lại có ý cướp binh quyền của Trịnh Tùng. Các tướng Lê Cập Đệ, Trịnh Vĩnh Thiệu, Phan Công Tích và Trịnh Bách đang đêm dẫn thủ hạ tới đầu quân cho Trịnh Tùng. Chớp cơ hội, cùng nhóm tướng đến chỗ vua Anh Tông ở An Trường, giữa đường gặp Đặng Huấn cũng ép phải đi theo. Khi vào yết kiến, Trịnh Tùng khóc nói:

– Anh thần là Cối đam mê tửu sắc, làm nhiều việc mất lòng người, chẳng sớm thì chầy tất đến loạn mất! Nay Cối lại định tước đoạt số quân của thần, nên bọn thần đang đêm phải chạy đến gieo mình ở cửa cung khuyết.

Rồi đưa hoàng đế vào phía trong cửa ải Vạn Lại, chia quân giữ các nơi hiểm yếu.

Ngày 7/5 cùng Lại Thể Mĩ, Lại Thế Khanh,… đem quân tới đánh. Hai bên kình nhau mấy ngày không phân thắng bại. Lê Anh Tông sai sứ sang chiêu dụ hai bên giảng hòa nhưng không có kết quả. Lại Thế Mĩ đưa quân đánh vào Vạn Lại hòng bắt nhà vua. Hai bên đánh nhau mấy ngày, bản thân Trịnh Cối nhận thấy bất lợi, bèn lui về Biện Dinh, bố trí các tướng chống giữ các nơi.

Ngày 20/9 (AL) vua Lê Anh Tông sắc phong Trịnh Tùng làm Trường Quận công, tiết chế các dinh thủy bộ, cầm quân đánh giặc. Ông hội các tướng, lập lười thề rồi chia quân đóng giữ các cửa lũy, đào hào, dựng rào, đặt quân mai phục, giữ cố hiểm yếu để phòng ngừa quân Mạc.

Ngày 20/8/1570 (Canh Ngọ) khi 20 tuổi, vua sắc phong cho làm Trưởng Quận công, Tiết chế thủy bộ chư dinh, cầm quân đánh giặc.

Tháng 2/1571 được nhận phong Thái úy Trường Quốc công, nắm giữ binh quyền nam triều. Biết được Lê Cập Đệ cùng với người trong họ là Thái phó Vệ Dương hầu Trịnh Bách đang có ý định mưu phản để đoạt quyền, trong một lần Cập Đệ rủ ra sông để tìm cách giết nhưng không thành, bề ngoài ông vẫn đối xử tử tế. Trịnh Bách bị nhốt vào ngục, bà Ngọc Bảo xin giúp nên mới được tha.

Ngày 25/12/1572 nhân lúc Cập Đệ đi tới, Trịnh Tùng bí mật sai đao phủ phục sẵn và xông ra giết chết, rồi phao tin Cập Đệ mưu phản, nên nhà vua sai giết đi. Bọn Cảnh Hấp, Đình Ngạn nói với vua về việc chuyên quyền của Trịnh Tùng. Nhà vua có ý nghi ngờ , đang đêm đem 4 hoàng tử (Bách, Lựu, Ngạnh, Tùng) chạy về Nghệ An. Trịnh Tùng bàn với các tướng:

– Nay vua nghe theo lời gièm của kẻ tiểu nhân, phút chốc khinh suất đem ngôi báu xuôi giạt ra ngoài. Thiên hạ không thể một ngày không có vua, bọn ta và quân lính sẽ lập công danh với ai được? Chi bằng trước hết hãy tìm hoàng tử lập lên để yên lòng người, rồi sau sẽ đem quân đi đón vua cũng chưa muộn.

Bèn cho người đón hoàng tử thứ 5 là Lê Duy Đàm đang ở Quảng Thi, huyện Thụy Nguyên về tôn làm vua, tức là vua Lê Thế Tông. Lại sai Dương Quận công Lê Hữu Liêu ra Nghệ An đón Anh Tông. Anh Tông lánh ra ruộng mía nhưng cũng bị bắt đưa về Thanh Hoa.

Ngày 23/2/1573 Bảng Quận công Tống Đức Vị ngầm giết vua ở huyện Lôi Dương rồi phao tin rằng vua thắt cổ chết. Trịnh Tùng tự phong cho mình làm Đô tướng tiết chế các doanh quân thủy bộ ở các xứ kiêm giữ việc quân việc nước quan trọng. Phàm các sự vụ cơ mật quốc gia đều tự quyết định cả. Lại dùng Vũ Công Kỷ làm hữu tướng, bọn Hoàng Đình Ái, Vũ Sư Thước và Nguyễn Hữu Liêu làm thái phó và phong tước quận công cho bọn Trịnh Đỗ, Phạm Văn Khoái và Hà Thọ Lộc.

Tháng 7 Mạc Kính Điển dẫn quân vào xâm lược xứ Thanh Hoa. Trịnh Tùng đốc suất thủy quân chặn đánh các ngả phá tan quân Mạc. Hạ lệnh cho dân các huyện dọc sông xứ Thanh Hoa thu nhặt tiền của, thóc lúa cùng vợ con vào nơi hiểm yếu để phòng tránh quân Mạc đến cướp phá, đồng thời hạ lệnh nếu có trộm, cướp phải đem nhau đến cứu

Tháng 8 Mạc Kính Điểm xâm lấn sông Đồng Cổ, Trịnh Tùng thân đem đại binh ra cửa lũy Khoái Lạc để chống lại, sai Hoàng Đình Ái đem kỵ binh ra khiêu chiến, Nguyễn Hữu Liêu đem quân đánh phá tan; lại cùng với quân Mạc đánh nháu ở Hà Đô, sai Nam đạo tướng quân Nguyễn Quyện đem quân phục ở ngoài, lại sai Hoằng Quận công Lại Thế Mỹ đem quân khiêu chiến đánh cho quân Mạc tan vỡ

Năm 1577 chặn các cuộc tấn công của quân Mạc

Tháng 11/1583 xem thế quân đã mạnh bèn đem đại binh theo đường Phố Cát, kéo ra Sơn Nam đánh quân Mạc ở các huyện thuộc các phủ ở Yên Trường, Thiện Quan, Yên Mô và Yên Khang gặt lúa rồi lại kéo về. Hơn 1 tuần, Trịnh Tùng giả cách rút quân về để lại kỳ binh và voi phục sẵn ở phía sau, quân Mạc quả nhiên bỏ không trại, tranh nhau đi trước đuổi đánh bị trúng mai phục tướng Mạc là Tân Quận công và Huỳnh Quận công may mắn mới thoát thân.

Năm 1584 (mùa xuân) kéo quân ra Trường Yên, rồi lại tiến quân đi tuần ở Thiên Quan. Vì Ngô Cảnh Hựu rút quân về trước, nên Trịnh Tùng phải rút quân về theo, liền dâng biểu xin giáng chức Cảnh Hựu xuống hai tư.

Tháng 9 Trịnh Cối chết trên đất Bắc Triều. Họ Mạc sai người đến điếu tế, lại sai quân đưa linh cữu cùng người nhà, mẹ và vợ con về xứ Thanh. Trịnh Tùng cũng sai người đón tiếp linh cữu về quàn ở bên núi Quân Yên, huyện Yên Định, đặt lễ cúng tế, dâng biểu tâu vua tha tội cho anh trai và tặng Thái phó Trung Quốc công. Sai con của mình là Trịnh Xuân mặc đồ tang cho bác.

Năm 1585 (mùa xuân) thân hành đốc suất đại quân, kéo ra Thiên Quan, đánh phá các huyện Mỹ Lương, Thạch Thất và An Sơn, lược định mặt Tây đạo. Đóng quân ở Sài Sơn, để tỳ tướng là quận Chiêu đóng đồn ở Hoàng Xá. Quân Mạc truy kích khiến quận Chiêu bị chết trận, Trịnh Tùng lại phải rút quân về.

Ngày 29/9/1586 quân doanh của Trịnh Tùng ở Trường An gặp hỏa hoạn, lại gặp lúc gió lộng, cháy nhẹm tất cả trại quân phòng, dinh, công đường và phố xá đến vài nghìn nóc nhà, khói lửa mù mịt, từ giờ ngọ tới giờ thân mới dập tắt được. Mẫu thân chết trong đám cháy nên Trịnh Tùng phải lánh sang chỗ khác để cư tang, tôn bà là Từ Nghi Vương thái phi.

Tháng 11/1587 (mùa hạ) Trịnh Bách lại mưu phản, nuôi kẻ đồng cốt làm thuật phép yêu quái và định táng mả cha vào nơi cấm địa. Trịnh Tùng phát hiện bèn sai người thắt cổ giết chết. Mùa đông, Trịnh Tùng kéo quân đánh phá Trường Yên và Thiên Quan, tiến ra vùng tây nam, đến huyện Mỹ Lương. Nhà Mạc sai Mạc Ngọc Liễn dẫn quân từ huyện An Sơn; Nguyễn Quyện từ huyện Chương Đức vượt sông Do Lễ đến kháng cự, bó trí đặt mai phục ở miền sơn cước, và tìm cách cắt đường chuyển lương của quân Trịnh. Qua do thám, biết được mưu đồ, Trịnh Tùng bèn sai tướng là Hoàng Đình Ái cấp tốc đang đêm lén về để giữ Thanh Hoa, Hà Thọ Lộc và Ngô Cảnh Hựu ở lại canh giữ binh lương ở phía sau. Lại cử Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Đỗ từ đường phía tả, xuất quân đi cầm cự với Mạc Ngọc Liễn để phân tán thế lực của địch. Bản thân thì đốc quân do đường bên phải kéo ra, tiến đánh khiến Nguyễn Quyện thua chạy, cuối năm Trịnh Tùng rút quân về Thanh Hóa.

Cuối năm 1588 Trịnh Tùng lại rầm rộ kéo quân ngoài cửa ải Trường Cát, đánh phá Trường Yên và Thiên Quan, vượt sông Chính Đại. Đến trại Dương Vũ, đóng quân ở lại đến hơn 1 tuần. Quân Mạc cố thủ không ra đánh. Bèn giả đò dùng kế đốt doanh trại rút quân về để nhử địch, nhưng đã đặt kỳ binh và voi ngựa mai phục phía sau. Quân Mạc từ trong lũy kéo ra truy kích thì gặp phải phục binh đánh úp, tổn thất vài trăm nhân mạng. Trịnh Tùng lại chuyển quân quay về núi Tam Điệp, hạ lệnh cho quân bố trí phòng thủ ở cửa biển Linh Trường để chặn thuyền giặc kéo tới.

Năm 1589 (mùa đông) lại dẫn quân tấn công huyện Trường Yên. Nhà Mạc sai Mạc Đôn Nhượng đóng quân ở Yên Mô tiếp chiến. Trịnh Tùng bàn mưu với các tướng:

– Nay họ Mạc đem hết đại binh tới, chỉ cốt giao chiến với ta để quyết một trận sống mái. Quân địch nhiều, quân ta ít, thế mạnh yếu khác nhau. Nhưng ta đã ở vào đất hiểm, hẳn giặc không làm gì được. Binh pháp có nói: Một người giữ chỗ hiểm, ngàn người không địch nổi là thế đó. Ta nên giả cách rút quân, để dắt chúng vào chỗ hiểm. Nó tất khinh ta, đem hết quân đuổi theo. Ta dùng trọng binh đánh úp, ắt sẽ phá được.

Canh ba đêm đó, sai Nguyễn Hữu Liêu dẫn 15.000 quân tinh nhuệ và 200 khinh kỵ mai phục ở chân núi; sai 2 em là Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng nhử giặc vào ổ mai phục; và Ngô Cảnh Hựu giả bộ thu lượm lương thực và binh khí để lui. Quân Mạc nhận thấy tình thế thuận lợi nên tiến quân, Trịnh Đỗ và Trịnh Đồng vừa đánh vừa lui, nhử quân Mạc đến vùng sơn cước. Phục binh nghe tiếng pháo nổ, hàng loạt nổi dậy. Trịnh Tùng tung đại quân ra, bốn mặt cùng hăng hái đánh; chém hơn nghìn thủ cấp địch, bắt sống hơn 600 người. Quân Mạc tan chạy. Mạc Đôn Nhượng thu lượm quân tàn trốn về. Trịnh Tùng thắng trận, các tướng đều đem nộp các tù binh của mình bắt được. Trịnh Tùng sai cởi trói, vỗ về rồi cấp cơm áo thả về quê. Xong việc bèn đưa quân trở về Thanh Hóa.

Ngày 3/12/1591 Trịnh Tùng họp bàn việc ra quân bắc phạt với quy mô lớn với 7 vạn quân; sai Diễn Quận công Trịnh Văn Hải và Thái Quận công Nguyễn Thất Lý, quản lãnh quân thủy bộ trấn thủ những nơi hiểm yếu ở các cửa biển; Quận Thọ Lê Hòa kiêm coi võ sĩ trong ngoài thuộc bốn vệ theo hầu vua Lê Thế Tông và hộ vệ ngự doanh. Điều động 5 vạn quân, phân làm 5 lộ sai Nguyễn Hữu Liêu, Hoàng Đình Ái, Hà Thọ Lộc, Ngô Cảnh Hựu chia nhau quản lãnh. Bản thân dẫn 2 vạn binh trung quân kéo ra Tây Đô, theo huyện Quảng Bình qua huyện Thiên Quan, hơn 10 hôm thì đến núi Mã Yên, rồi tiến ra huyện Ma Nghĩa. Các lộ An Sơn, Thạch Thất, Phúc Lộc, Tân Phong đều nhanh chóng thất thủ; Trịnh Tùng cho đóng quân ở Tốt Lâm. Vua Mạc Mậu Hợp kinh hoàng, vội điều hết binh mã 4 vệ 5 phủ, trong đó có các tôn thất họ Mạc và các tướng tức vệ ở Đông Đại được khoảng 10 vạn, đích thân làm tướng tiến đến xã Phấn Thượng, kháng cự với vương sư. Trịnh Tùng sai Hoàng Đình Ái ra đánh, giết được tướng Mạc là Quận Khuông và Quận Tân. Cử tướng Sĩ Dinh đem 400 quân tinh nhuệ tiến lên phía trước khiêu chiến, Trịnh Tùng cũng đích thân ra đốc chiến. Hai bên đánh nhau ở bên sông Hát Gian, quân Trịnh đánh hăng hái khiến quân Mạc chống không nổi, thua chạy qua sông chết quá nửa. Mạc Mậu Hợp bỏ chạy, quân Lê – Trịnh đuổi quân Mạc đến Giang Cao, chém hơn 1 vạn thủ cấp.

Trịnh Tùng đóng trại ở Hoàng Xá, sai quân vượt sông Cù, phá được nhiều thành lũy. Bàn với các tướng rằng:

Quân giặc nhiều lần thất bại, ta nên nhân đà thắng này mau mau đánh lấy thì dễ dàng như cúi xuống nhặt lấy cái rác thôi.

Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: …nên nhân cái uy thế như sấm sét không kịp che tai mà đánh lấy thì dễ như nhặt hạt cải

Bèn sai Nguyễn Hữu Liêu quản lãnh 500 binh tinh nhuệ và voi thẳng tiến đến cầu Cau ở phía tây nam kinh thành rồi phóng hỏa đốt nhà cửa. Người trong kinh thành chạy trốn lưu li, ngoài đường vang tiếng khóc; nhiều người tranh nhau vượt sống mà chạy, chết đuối rất nhiều.

Năm 1592 (3/Giêng/Nhâm Thìn) Trịnh Tùng cho quân nghỉ ngơi ăn Tết, hẹn ngày thu phục kinh thành. Trịnh Tùng lập đàn, tế cáo trời đất và tiên đế nhà Lê, đặt ra 3 điều nghiêm cấm tướng sĩ, ai vi phạm thì chiếu theo quân pháp để trị:

  1. Không được vào nhà dân để lấy lương thực và củi đuốc
  2. Không được cướp của cải và chặt cây cối
  3. Không được dâm hiếp đàn bà con gái, không được vị tư thù mà giết người

Cáo dụ rằng: Cái thế chẻ tre không nên bỏ lỡ. Rồi tiến quân vào Đông Kinh. Quân đi đến đâu, nhân dân tranh nhau đem rượu và trâu bò đến đón. Khi quân Lê – Trịnh tiến đến chùa Thiên Xuân, Mạc Mậu Hợp đã bỏ chạy qua bờ bắc sông Nhị, đóng ở xã Thổ Khói, ra sức củng cố lực lượng, nội ứng ngoại hiệp với quân trong thành. Nguyễn Quyện đã mai phục ở ô cầu Dền. Trịnh Tùng sai người san phẳng thành lũy rồi cho rút quân về vì đất căn bản của Mậu Hợp là phía đông bắc. Nay tuy y bại trận ở đây nhưng viện binh ở nơi khác vẫn còn nhiều

Mùng 5 Tết, Trịnh Tùng kéo quân qua cầu Nhân Mục, sông Tô Lịch, đóng ở Sạ Đôi (gò tập bắn), để bày trận thế rồi truyền cho các tướng sĩ nội nhật phải lấy được thành Thăng Long và tướng nào vào được trong thành trước sẽ được trọng hưởng. Bèn chia quân thành 5 đạo:

  1. Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Ninh làm đạo Tả dực với 10.000 quân và voi, đánh lấy cầu Gia Kiều, giáp chiến cùng Bùi Văn Khuê và Trần Bách Niên ở cửu Tây
  2. Hoàng Đình Ái và Trịnh Đồng làm đạo Hữu dực với 10.550 quân và voi, đánh nhau với Nguyễn Quảng ở cửa Triền Kiều (Bạch Mai) và cửa Nam Giao, mặt nam kinh thành Thăng Long.
  3. Trịnh Đỗ đốc suất tiền quân và trung quân.
  4. Đích thân Trịnh Tùng cầm 25.000 quân hậu tập đóng ở phường Hồng Mai.
  5. Thụy Trang hầu cầm 1.200 quân tiên phong, lấy cầu Mộng Kiều và cửa Mộng Kiều ở mặt nam kinh thành.

Bấy giờ Mậu Hợp tuy đã qua đò sang bắc, nhưng vẫn cậy có sông dài hiểm trở, sai Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê, Nguyễn Quyện và Trần Bách Niên cố thủ thành Đại La, còn mình thì thống suất thủy quân, dàn hơn trăm chiếc thuyền thành thế trận, giữ sống Nhị Hà để làm cứu viện cho quân trong thành. Hai quân giao chiến từ giờ Tỵ đến giờ Mùi; cuối cùng Trịnh Tùng đích thân đốc suất tướng sĩ trèo xuyên qua lũy, trèo lên thành, cac tướng sĩ đua nhau xông lên trước, đánh phá được ba lần cửa lũy ở ngoài thành.

Quân Mạc tan vỡ, các tướng Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên và Mạc Ngọc Liễn bỏ chạy; cánh của Hoàng Đình Ái lùi voi phá cầu; đánh bại phục binh của Nguyễn Quyện; giết hai con của Quyện là Nguyễn Bảo TrungNguyễn Nghĩa Trạch, Nguyễn Quyện cũng bị bắt sống. Thây giặc chồng chất lên nhau, tổng cộng hơn 1.000 người bị giết; Mạc Mậu Hợp thu thập tàn quân cố thủ dọc sông.

Trịnh Tùng thân hành cởi trói cho Quyện, đối đãi bằng lễ tiếp khách và yên ủi cho đến điều. Quyện hổ thẹn , vội phục xuống đất. Trịnh Tùng tuy đánh thắng liên tục nhưng do lực lượng chưa đủ nên đành lui về Thanh Hóa; lại hỏi kế của Nguyễn Quyện. Nguyễn Quyện tìm cách hoãn binh để giúp họ Mạc, nên khuyên san phẳng lũy đất thành khiến cho nhà Mạc dù có quay về cũng không còn gì để làm căn cứ được nữa, Trịnh Tùng liền nghe theo. Về sau, Nguyễn Quyện lại mưu đồ theo nhà Mạc, việc bị phát giác nên bị giam vào ngục, rồi chết.

Mừa thu, Trịnh Tùng đang thiếu thủy quân thì bỗng dưng tướng Bùi Văn Khuê đem quân đến đầu hàng, vì Mạc Mậu Hợp mưu giết. Trịnh Tùng vui mừng nói:

Trước đây, ta thường thắng trận băng bộ binh và tượng binh, lực lượng đó chỉ có thể dùng ở phía tây bắc thôi. Nếu muốn đánh về miền đông nam, phi thủy quân không thể đảm đương nổi. Nay được thủy quân của Văn Khuê, ta sẽ dùng ngay, theo đường Trường Yên, ra mạn Duy Tân, Phú Xuyên, rồi tiến binh theo đại lộ, thì không còn lẽ gì là không thắng. Văn Khuê đầu hàng, thế là trời giúp cho ta được chóng thành công. Đất đai bản triều có thể hẹn ngày khôi phục.

Bèn sai Hoàng Đình Ái làm tiên phong, đến làng Bái và làng Đình hội quân với Bùi Văn Khuê. Đình Ái sai Văn Khuê tiến quân đóng giữ bến đò Đàm Giang. Quân Mạc bèn lui giữ sông Thiên Phái. Trịnh Tùng quản đốc đại quân kéo ra Trường Yên, tiếp đãi Bùi Văn Khuê phong tước quận công và sai cầm quân đánh họ Mạc. Quân Lê – Trịnh đến núi Kẽm Trống đóng traij, Tùng sai Văn Khuê lén dời binh thuyền ra cửa sông, rồi trên và dưới cùng đánh kẹp lại: Quân Mạc tan vỡ, tướng Trần Bách Niên đầu hàng.

Tháng 11 (AL) Trịnh Tùng tiến đóng Bình Lục, rồi kéo đến bãi Tinh Thần thuộc Thanh Oai, đóng dinh trại, ra chiếu dụ cho dân chúng miền tây nam đâu đấy cứ yên nghiệp làm ăn; sau đó tiến ra cửa sông Hát; đánh bại tướng Mạc Ngọc Liễn, khiến Ngọc Liễn phải chạy qua Tam Đảo. Quan quân thừa thắng, ruỗi dài đến cửa nam thành Thăng Long, đóng quân ở bến Cỏ, bắt được chiến thuyền của Mạc đến hàng nghìn chiếc, Mạc Mậu Hợp hốt hoảng chạy sang Kim Thành (Hải Dương). Trịnh Tùng phủ dụ quân dân, cấm quân sĩ xâm phạm dân chúng; các huyện Thuận An, Tam Đái, Thượng Hồng đều hàng phục cả. Lại sai quân đánh sang Kim Thành; Mạc Mậu Hợp bỏ trốn; quân Lê bắt được Thái hậu mẹ đích của vua Mạc đem về và thu được nhiều của cải, châu báu. Trên đường áp giải đi ngang sông Bồ Đề, Thái hậu nhảy xuống sông tự vẫn. Mạc Mậu hợp bèn lập con là Mạc Toàn làm vua, bản thân tự làm tướng, quản đốc binh mã chống giữ.

Trịnh Tùng lại phá được Mạc Kính Chỉ ở Thanh Hà, các quan nhà Mạc lũ lượt ra hàng. Tùng tiến đóng quân doanh tại xã Tranh Giang thuộc Vĩnh Lại; sai Phạm Văn Khoái thu phục các huyện ở Kinh Bắc. Mạc Mậu Hợp bỏ trốn vào chùa Mô Khuê ở hạt Phượng Nhỡn, giả làm nhà sư. Có người báo tin chỗ ẩn nấp của vua Mạc, Trịnh Tùng sai Trà Quận công Nguyễn Đình Luận và Liêm Quận công Lưu Chản đến chùa bắt sống Mậu Hợp giải đến doanh trại. Khi Mậu Hợp được áp giải tới, ông sai dàn binh mã uy nghiêm, rồi cho dẫn Mạc Mậu Hộ vào, bắt hành lễ quỳ lạy dập đầu như đối với thiên tử, rồi sai giam lại ở bên ngoài cửa quân. Các quan văn võ đều nghị rằng:

Chiếu điều luật, những kẻ phạm tội thoán thi (giết vua cướp ngôi), thì xử theo luật “lăng trì”, để làm gương cho mọi người, và đúng phép nước; lại đem thủ cấp tế cáo nhà Tôn miếu, để rửa sỉ nhục của Tiên vương, và bớt cơn giận của thần nhân.

Năm 1593 Trịnh Tùng không nỡ gia cực hình, truyền đem treo sống ba ngày rồi chém đầu ở Bồ Đề; rồi đem thủ cấp dâng cho nhà vua đang ở sách Vạn Lại (Thanh Hoa), sau đó đóng đinh vào hai mắt, bêu ở chợ. Ông rời bản doanh về phía nam kinh đô.

Mùa xuân, Mạc Kính Chỉ là con của Mạc Kính Điển tập hợp được khoảng 6 – 7 vạn quân; lên ngôi ở xã Nam Giản (huyện Chí Linh), cải nguyên là Bảo Định; Mạc Toàn và nhiều bề tôi dẫn nhau đến quy phục. Trịnh Tùng được tin, sai Nguyễn Thất Lý, Bùi Văn Khuê và Ngô Đình Nga tiến đánh; bị bại trận, Thất Lý chết trận, Đình Nga bị thương nặng; các huyện ở Hải Dương và Kinh Bắc lại quy phục họ Mạc.

Trịnh Tùng sợ để lâu sinh biến, liền sai Hoàng Đình Ái dẫn lực lượng lớn đi tiễu phạt tiến đến Cẩm Giàng. Kính Chỉ dốc hết quân ra giữ Thanh Lâm, lấy một dãy Hàm Giang làm chỗ phân chia nam – bắc. Hai bên luôn luôn huy động quân đội để chống giữ; lâu ngày không phân thắng bại, đến nỗi không lúc nào dám cởi bỏ áo giáp. Ở Thanh Lâm, Kính Chỉ lại đắp thêm hào lũy theo dọc bên sống để cho phòng thủ được bền vững. Trước tình hình đó, Trịnh Tùng đích thân dẫn quân ra sông Nhị, đêm ngày đi gấp đường, đến Cẩm Giàng, cử Hoàng Đình Ái thống lãnh tướng sĩ các dinh, tiến đến Thanh Lâm để đánh vào phía hạ lưu; Trịnh Tùng thân đốc đại binh để đánh phía thượng lưu; Nguyễn Hữu Liêu thống suất quân thủy để bao vây và đón chặn đường đi của quân Mạc. Quân Mạc tan vỡ, Kính Chỉ và thân thuộc trốn chạy vào trong núi. Quân Lê – Trịnh đuổi theo đến Đông Triều, bắt được bọn An Sơn, Vương Kính Thành, Hoàng Lượng công Lý Hựu đều giết chết. Lại lùng bắt và tóm gọn được bọn Kính Chỉ cùng Kính Phu, Kính Thuận, Kính Giản, Kính Tuân (đều là con của Mạc Kính Điển), hơn 60 người tại Tân Manh; rồi giải về bến Cỏ đem xử giảo hình (treo cổ). Riêng Mạc Kính Chỉ bị chém đầu, lấy thủ cấp đem bêu ở Thanh Hóa

Trịnh Tùng cho sửa sang cung điện trong kinh thành, sau 1 tháng thì hoàn thành; bèn ái Thái phó Dương Quốc công Nguyễn Hữu Liêu đến Tây Đô đón xa giá về kinh.

Ngày 16/4 (mùa hạ) Trịnh Tùng thân đem các quan đến huyện Thanh Oai đón rước Thánh giá cử nhà nhạc cùng về kinh thành Thăng Long, vua Lê Thế Tông đến kinh đô.

Ngày 24/4 Trịnh Tùng đích thân dẫn quân chia quân đánh dẹp, đảng họ Mạc tan chạy. Hải Dương, Sơn Nam cũng dẹp yên dần. Trịnh Tùng sai các tướng đem quân chia giữ các phủ Thượng Hồng, Hạ Hồng, Khoái Châu, Thuận An, Từ Sơn. Lại ra lệnh cho dân xiêu tán ở các huyện trở về nguyên quán yên nghiệp.

Ngày 16/5 vua ngự ở tòa chính điện, nhận lễ mừng của bách quan, đại xá thiên hạ, gia phong cho những ai có công

Tướng Mạc Ngọc Liễn lập con của Mạc Kính Điển là Đôn Hậu vương Mạc Kính Cung lên làm vua, cải nguyên Càn Thống, dư đảng họ Mạc lục tục kéo về hưởng ứng, thế lực nhà Mạc lại mạnh lên, kiểm soát bờ bắc sông Nhị

Năm 1594 Mạc Ngọc Liễn đưa Mạc Kính Cung chạy ra huyện An Bắc; Trịnh Tùng sai Hoàng Đình Ái tới đánh; Ngọc Liễn chạy sang Tư Minh xin xưng thần với nhà Minh. Hoàng Đình Ái đánh dẹp các vùng phía bắc sông Nhị, giết được nhiều tông thất nhà Mạc.

Năm 1597, có hai người tên là Nguyễn Đường Minh quê huyện Yên Phong và Nguyễn Minh Trí quê xã Ngải Kiều có âm mưu lật đổ họ Trịnh. Trịnh Tùng phát giác âm mưu và đem cả hai ra xử tử.

Vua nhà Minh sai Trần Đôn Đức cùng Vương Doãn Lập đem ngựa tốt, đai bằng ngọc, mũ sung thiên và hai bức sắc văn có viết tám chữ: “Quang hưng tiền liệt, định quốc nguyên huân” (làm rực rỡ công đức tổ tiên và có công đầu định được nước), tặng cho Trịnh Tùng. Đích thân Minh Thần Tông có lời khen: Nước An Nam, tướng họ Trịnh hay hậu được nghĩa nhân, giúp được nhà Lê tiểu trừ giặc Mạc, thực là bực anh hùng trong đời.

Tháng 8/1598 tông thất nhà Mạc là Mạc Kính Dụng họp quân ở huyện An Bác, xưng là Uy vương, lại tìm mưu giết viên thổ quan là Phú Lương hầu để cướp lấy đất đai và dân chúng. Phú Lương hầu đoán nghe được, bèn dùng mẹo đánh lừa, sai vợ con ra đón hàng rồi dụ Kính Dụng vào ở trong một hang núi, bí mật giết hết những người thân thuộc đi theo ông ta, lại mật cho người báo tin về kinh cho Trịnh Tùng biết. Trịnh Tùng sai tướng đến bắt Kính Dụng giải về kinh sư, thắt cổ giết chết. Cuối năm, tướng nhà Lê là Trần Phúc lại đánh lên Cao Bằng, Mạc Kính Cung bỏ chạy sang Long châu, quân triều đình bắt được con thứ của Cung năm đó lên 12 tuổi, giải về kinh thắt cổ đến chết. Mạc Kính Cung ở Long châu hối lộ cho viên thổ quan nhà Minh nhờ đệ lời tâu vua Minh cho Kính Cung được giữ đất Thái Nguyên và Cao Bằng, triều đình bất đắc dĩ phải nghe theo.

Lệnh cho huyện Quảng Đức mở cục làm giấy, làm loại giấy khổ to, kiểu mới nộp quan, không được bán riêng. Bấy giờ, người ta hay làm giả lệnh thị, cho nên có việc cấm này để phòng kẻ gian. Lại hạ lệnh cho thừa ty và phủ huyện các xứ nếu thấy người của quan trên sai xuống có mang thiếp thị thì phải xét thực là giấy kiểu mới mới được y lệ thừa hành, nếu không phải thì bắt nộp trị tội. Lại có lệnh cho các quan phủ, huyện, xã tuyển dân đinh trong hạt làm lính để bổ sung vào quân đội. Nhưng do phép duyệt tuyển có nhiều chỗ sách nhiễu những nhặn khiến người dân bất bình.

Ngày 7/4/1599 Trịnh Tùng ép vua Lê Thế Tông phong cho mình làm Đô nguyên suý tổng quốc chính thượng phụ Bình An vương, là chức quan cao nhất trong triều, chỉ đứng sau vua. Lê Thế Tông bất đắc dĩ phải y cho.

Ngày 11/5 vua sai Hoàng Đình Ái đem sách thư phong Tùng làm Bình An vương, ban cho Ngọc toản, mao tiết, hoàng việt. Ông nhận sách phong xong vào triều lạy tạ vua Lê, rồi về phủ nhận lễ bái mừng của trăm quan, bèn mở tiệc lớn và đem tiền, lụa ra thưởng cho mọi người, kẻ nhiều người ít khác nhau.

Trịnh Tùng lại cho xây phủ chúa ở ngay bên cạnh triều đình vua Lê; và từ đó phủ chúa trở thành nơi bàn định công việc của đất nước; triều đình chỉ còn là hư danh, vua Lê chỉ có 7 thớt voi, 20 thuyền rồng 5000 lính túc vệ; thu thuế 1000 xã để chi dụng, chỉ chỉnh chện mặc áo long bào, cầm hốt ngọc nhận lễ triều yết mà thôi. Còn những việc đặt quan, thu thuế, bắt lính, trị dân, đều thuộc về quyền họ Trịnh cả. Chỉ có khi nào thiết triều hay là tiếp sứ thì mới cần đến vua mà thôi. Uy quyền họ Trịnh bấy giờ rất lớn, nếu muốn lật đổ nhà Lê cũng không khó gì, nhưng trước sau Trịnh Tùng vẫn không dám cướp ngôi vua, là vì ở phía Bắc sợ có nhà Minh sinh sự, lại có họ Mạc còn giữ đất Cao Bằng, nếu tiếm ngôi thì e quân nghịch nổi lên lấy phù Lê thảo Trịnh làm cớ.

Tháng 8 chúa Bầu ở Đại Đồng là Vũ Đức Cung nổi dậy, tiếm xưng là Long Bình vương, sai tướng thủ hạ là bọn Nhuệ quận công đem quân của châu Đại Man đánh các động núi ở châu Bạch Thông, đất Thái Nguyên, bức thu thuế mỏ bạc. Bấy giờ, Bình An vương sai bọn Hải quận công, Quảng quận công, Phụng quận công đem quân tiến đánh, lại sai tướng Vệ Nghĩa hầu Tống Thời Chiếu dẫn đường đi đánh phá giặc.

Năm 1600 Đức Cung cho con là Vũ Công Ứng tới hành cung giảng hòa. Chúa tiếp đãi an ủi rất trọng hậu, hạ chỉ khen ngợi, và sai khiến đi bắt con cháu nhà Mạc.

Ngày 12/10 Lê Thế Tông qua đời, Trịnh Tùng bàn với các quan rằng thái tử không thông minh mẫn tiệp, bèn lập con thứ là Duy Tân.

Ngày 15/10, Duy Tân lên nối ngôi, tức là Lê Kính Tông. Các hoàng thân và đại thần đều theo lễ để tang từ 1 – 3 năm, riêng Trịnh Tùng là bậc quân vương nên phải khác với trăm quan, chỉ để tang 100 ngày mà thôi.

Mùa hạ, Nguyễn Hoàng xúi giục bọn tướng cũ của nhà Mạc gồm Kế Quận công Phan Ngạn, Tráng Quận công Ngô Đình Nga, Mỹ Quận công Bùi Văn Khuê nổi lên chống lại nhà Lê, theo về họ Mạc. Nguyễn Hoàng xin được cầm quân đánh dẹp rồi bí mật đốt hết doanh trại, trốn về Thuận Hoá. Lòng người trong kinh kì dao động, Trịnh Tùng phò vua Lê Kính Tông chạy về Thanh Hoa. Các thế lực cũ của nhà Mạc nổi lên, đón Bùi thị là thứ mẫu của Mạc Mậu Hợp tiếm xưng Quốc mẫu ra coi chầu, và rước Mạc Kính Cung từ Cao Bằng về Thăng Long.

Ngày 24/6 Phan Ngạn nghi ngờ Bùi Văn Khuê có ý làm phản nên giết đi. Vợ của Khuê là Nguyễn Thị Niên, bèn dụ giết Phan Ngạn để báo thù cho chồng. Trịnh Tùng được tin về những biến động ở nói trên, nhận ra thời cơ thu phục kinh thành đã tới. Ông đem thủy bộ cùng xuất phát từ An Trường. Nguyễn Khải dẫn quân bộ đi đầu, phá được giặc ở cửa sông Giáng, còn quân thủy đi theo sông Ninh Giang ra cửa sông Hát, thuận dòng nước mà xuôi xuống, xông thẳng vào Đông Kinh. Quân triều đình đi đến Gián Khẩu thì gặp tướng nhà Mạc là bọn Quận Vân đem thủy quan đến chặn đường. Trịnh Tùng phát lệnh cho các quân xông lên đánh mạnh, bắn gấp. Binh thuyền của Quận Vân thua lớn, bỏ chạy. Quân Lê – Trịnh tái chiếm Thăng Long, Bùi Thị bị giết, Mạc Kính Cung chạy về Cao Bằng, còn Ngô Đình Nga bị bắt xử tử. 

Vài ngày sau, em của Phan Ngạn là Quận Quỳnh ra thú tội, Trịnh Tùng hạ lệnh tha tội cho ông này.

Ngày 2/8 cho đón vua Lê về kinh đô.

Năm 1601 Trịnh Tùng đích thân hành đem đại quân đánh dẹp Phù quốc hầu nhà Mạc là Nguyễn Dụng. Quân tiến đến Lãnh Giang, Dụng chống cự, tiền quân Trịnh Tùng bị thiệt hại. Tùng bèn khuyến khích tướng sĩ, quân lính đều hết sức liều chết tiến đánh, phá tan được quân giặc, chém được Dụng và Nga quận công ở mặt trận, thu được nhiều chiến lợi phẩm. Lại sai Hoàng Đình Ái đánh Hải Dương, Mạc Kính Cung phải chạy lên Lạng Sơn, vùng Hải Dương được bình định.

Trịnh Tùng sai Thiêm Đô ngự sử Gia Lộc tử là Lê Nghĩa Trạch cầm thư vào nam an ủi Nguyễn Hoàng, viết rằng:

Bậc đại thần, nghĩa phải cùng vui, cùng buồn với nước. Cậu đối với nước mà nói, thì là bề tôi huân cựu đời đời, đối với nhà mà nói, thì là tình nghĩa chí thân. Mới rồi, họ Mạc tiếm nghịch, vận nước gian truân, tiên tổ là Thái tể Hưng Quốc Chiêu Huân Tĩnh công (Nguyễn Kim) đầu tiên khởi xướng đại nghĩa, giúp Trang Tông Hoàng Đế trong lúc gian nan, sửa lại danh phận. Tiên tổ mất đi, tiên khảo là Minh Khang Thái Vương (Trịnh Kiểm) giữ trọng trách của nước, thấy cậu là người ruột thịt, trao cho hai xứ Thuận, Quảng. Cậu từ khi nhận được mệnh lệnh, vỗ yên dân địa phương, thực là có công. Tiên khảo chầu trời, cháu giữ binh quyền, vẫn để cậu giữ chức cũ. Nhiều lần gửi thư giục cậu dốc thu tiền thuế, vận tải lương thực để giúp việc chi dùng của nhà nước, cậu thường lấy cớ đường biển gian nan hiểm trở để từ chối. Đến khi Kinh thành đã lấy lại, thiên hạ đã yên cậu mới ung dung theo về. Triều đình ưu đãi, cho coi một phủ Hà Trung và bảy huyện miền trên trấn Sơn Nam, trao cho chức Hữu tướng, có ý mong cậu và tả tướng Vinh quốc công Hoàng Đình Ái giúp rập hai bên tả hữu để hoàn thành sự nghiệp trung hưng, để vỗ yên dân chúng nước Nam. Mới rồi, bọn nghịch thần Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga manh tâm phản bội, nổi quân làm loạn, cháu đương cùng với cậu trù tính việc binh, truy quét đảng nghịch, chẳng ngờ cậu không đợi mệnh, tự tiện bỏ về, làm dao động lòng dân địa phương. Không biết đó là bản ý của cậu, hay là nghe lầm gian kế của bọn phản nghịch. Nay Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn đánh lộn lẫn nhau, và đều đã bị giết cả. Thế mới biết đạo trời sáng rõ; tai hoạ không kịp trở gót, chắc cậu cũng biết cả rồi. Việc đã như thế, nếu cậu quả biết tỉnh ngộ ra, hối lại lỗi trước, nghĩ đến công nghiệp của tiên tổ, nên sai người mang thư đến hành tại lạy trình, rồi đốc nộp tiền thuế để cung việc chi dùng của nhà nước thì lấy công trừ lỗi, triều đình đã có pháp điển, mà công lao ngày trước của cậu lại được toàn vẹn, huân danh sự nghiệp bao đời, bền lâu mãi mãi. Nếu không thế, thì lấy thuận đánh nghịch, triều đình hùng binh đã có cớ rồi, danh tiết của cậu sẽ ra làm sao? Cậu trong việc quân thường vẫn lưu ý đến kinh sử, xin hãy nghĩ kỹ, đường để hối hận về sau.

Lê Nghĩa Trạch khi vào tới Thuận Hóa, biết Nguyễn Hoàng là người có nhiều mưu mẹo, bèn lấy thư giấu bỏ vào bụi rậm ngoài đồng rồi mới sai xá nhân báo tin mình đến. Nguyễn Hoàng khi đó đang bày kế cướp lấy thư và làm nhục sứ giả. Đêm đến Nguyễn Hoàng sai lính giả làm cướp đến chỗ trọ của sứ thần cướp hết hòm xiểng mang về, nhưng mở hòm ra không thấy thư lại sai người đốt cả chỗ trọ. Nghĩa Trạch vì đã đem thư giấu đi từ trước nên mưu kế của Nguyễn Hoàng bất thành. Sau đó, Hoàng đem con gái là Nguyễn Thị Ngọc Tú gả cho Trịnh Tráng (con thứ hai của Trịnh Tùng) và để người con thứ 5 là Trịnh Hải cùng cháu nội là Trịnh Hắc ở lại miền bắc làm con tin.

Mùa đông, Trịnh Tùng sai Hải quận công Nguyễn Đình Luân đem quân đi đánh Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm thuộc phe thân nhà Mạc. Trận ấy quân Trịnh bị thua chạy, bỏ lại hơn 40 chiếc thuyền mà về Kinh sư. Tùng nổi giận, liền bãi chức của Luân.

Năm 1602 mùa thu, Trịnh Tùng duyệt quân ở bến Cỏ (Thảo Tân).

Năm 1603 mùa hạ, Bình An vương nghi ngờ Đăng quận công Nguyễn Khai có ý làm phản, mới sai nội giám Nhạc quận công Bùi Sĩ Lâm cùm trói lại, tra xét không có tang chứng, sau một năm thì tha.

Năm 1609 Mạc Kính Cung quấy phá Thái Nguyên, chúa sai em là Trịnh Đỗ cùng Nguyễn Danh Thế đem quân tới kinh lý, Kính Cung thua chạy. Về sau, cháu Kính Cung là Kính Khoan lại tự xưng vương, đặt niên hiệu, quản lý vùng Vũ Nhai, Đại Từ.

Năm 1613 Nguyễn Hoàng chết, con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp.

Mùa đông, kinh thành gặp nạn lửa, đốt trụi hơn vạn nóc nhà. Bình An vương sai các quan trong triều đi các nơi thăm hỏi tình hình dân chúng đói khổ, hạ lệnh chuẩn cho miễn tô thuế phu dịch trong ba năm để cho dân xiêu tán lại trở về yên nghiệp.

Năm 1614 mùa hạ, Bình An vương phong tước quận công cho các cháu nội: Trịnh Tượng làm Liêm quận công, Trịnh Tạc làm Vinh quận công, Trịnh Đồ làm Hương quận công, Trịnh Bảng làm Hội quận công, Trịnh Trân là Phổ quận công, Trịnh Liêm làm Lãng quận công, Trịnh Thức làm Luân quận công, Trịnh Lệ làm Hoà quận công.

Năm 1615 mùa xuân, quan Thượng thư bộ Hình kiêm Đông các học sĩ tế tửu Quốc tử giám là Nghĩa Khê hầu Nguyễn Hữu Lễ dâng sớ điều trần nói về việc “trừ bỏ tám điều hại cho nước” (khử quốc tệ bát điều) để dẹp dứt các tệ nạn. Bình An vương cho phép đem thi hành lại gia thưởng cho Hữu Lễ rất hậu.

Năm 1618 mùa xuân, Chúa sai con là Trịnh Tráng, Trịnh Xuân, cùng bọn Nguyễn Cảnh Kiên, Nguyễn Văn Giai, Tạ Thế Thúc, Nguyễn Khải… tiến đánh, quân Mạc thua trận. Sau đó lại sai Trịnh Lâm và Trịnh Bảng đánh Vũ Nhai và cũng thắng lớn.

Ngày 12/2/1619 phủ chúa Trịnh bị hỏa hoạn, bắt đầu từ cửa Vương phủ, sau lan ra phố phường hai bên, cháy vào đến lầu cửa Đoan Môn của Triều đường và các nhà trực hai bên tả hữu đều cháy hết sạch.

Mùa hạ, Lê Kính Tông vì thấy Trịnh Tùng chuyên quyền quá lắm, nên không chịu được. Biết con thứ của Trịnh Tùng là Trịnh Xuân tranh ngôi với Trịnh Tráng, nên nhà vua bàn mưu với Xuân giết chúa, rồi quyền bính sau này sẽ trao cho Xuân. Xuân nghe tin chúa sẽ ra bến Đông Hà xem đua thuyền, bèn sai thuộc hạ là Văn Đốc đặt địa lôi và phục súng ở cạnh ngã ba đường. Quả nhiên chúa có đến lầu ở bờ sông. Khi về, thường chúa cưỡi voi. Hôm ấy, chúa thấy trong lòng không yên, cho voi ngựa và nghi vệ đi trước, còn tự mình ngồi kiệu đi sau. Đến chỗ ngã ba, có tiếng súng nổ, bắn gãy cây lọng tía. Vội sai truy bắt, thì bắt được Văn Đốc cùng đồ đảng, đem về phủ tra hỏi, y khai ra nhà vua cùng Vạn Quận công (Xuân). Trịnh Tùng sai Trấn quận công Trịnh Lâm và Nhạc quận công Bùi Sĩ Lâm vào điện xét hỏi tả hữu, thì biết hết sự việc.

Ngày 23/6 Chúa ngự ra phủ đường, tập hợp bách quan; thân bưng mâm vàng trầu cau bước ra, cùng triều thần luận tội. Nguyễn Danh Thế, Lê Bật Tứ, Nguyễn Duy Thì đều đề nghị xử tử Trịnh Xuân và phế truất nhà vua. Trịnh Tùng nghĩ tình cha con không nỡ giết, chỉ lệnh bắt Trịnh Xuân, bãi hết quan tước, binh quyền, giam vào nội phủ. Rồi lại cho giết bọn Văn Đốc. Sau đó ép Lê Kính Tông phải thắt cổ tự vẫn, vẫn cho táng theo lễ thiên tử; nhưng không đưa vào thờ ở thái miếu mà lập một điện riêng để thờ cúng, dâng thuỵ là “Giản Huy Đế” táng ở lăng Bố Vệ. Nghe theo lời con gái lập cháu ngoại Lê Duy Kỳ làm vua, là Lê Thần Tông

Năm 1620 Trịnh Xuân được tha.

Con thứ 7 và 8 của Nguyễn Hoàng là Chưởng cơ Nguyễn Hiệp và Nguyễn Trạch bí mật xin Trịnh Tùng giúp mình tranh ngôi. Liền sai Nguyễn Khải đem quân đi đón họ. Nhưng âm mưu bị lộ, Hiệp và Trạch bị bắt, Nguyễn Khải phải lui quân. Từ đó chúa Nguyễn không chịu nộp thuế, hai họ Trịnh – Nguyễn lăm le thôn tính lẫn nhau.

Trịnh Tùng khôi phục Thăng Long, xét đặt ra hai loại binh. Loại đầu kêu là Ưu binh, chỉ lấy ở hai xứ Thanh, Nghệ ba suất lấy 1, làm túc vệ ở kinh thành được cấp lộc điền và đôi khi còn được ban chức tước. Bọn ưu binh thường cho mình là người đất thang mộc, “nanh vuốt cật ruột” của triều đình mà nhiều khi lộng hành về sau này, nên còn được gọi là kiêu binh. Loại thứ hai kêu là Nhất binh, lấy ở 4 trấn đất Bắc là Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây, cứ năm xuất đinh lấy một, dùng để giữ ở các trấn, hết kỳ công tác thì cho về quê làm ruộng.

Năm 1621 mùa đông, Mạc Kính Khoan ở Cao Bằng lại đem quân quấy phá các hạt xung quanh. Trịnh Tùng được tin, sai Thái úy Vinh quốc công đem quân thẳng tiến đánh lớn với quân nhà Mạc. Quân Mạc thua to, tan chạy về Cao Bằng. Quân Lê – Trịnh đuổi theo tới nơi nhưng không bắt được Kính Khoan, lại phải dẫn quân về.

Tháng 5/1623 (Quý Hợi, Vĩnh Tộ thứ 5) triều đình tổ chức khoa thi Đình. Bấy giờ người làng Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hoá là Nguyễn Trật ngầm mượn người làm bài, việc phát giác. Bình An vương không bằng lòng, cho nên khoa ấy không cho treo bảng vàng.

Tháng 7 Trịnh Tùng bị bệnh kiết lị rất nặng, nằm ngồi không yên, bỏ cả ăn uống, thân thể suy nhược, chân tay không nhấc lên được. Sai mời các lương y, thầy phép, tăng nhân, đạo sĩ khắp nơi trong nước về bốc thuốc chữa trị, lập đàn cầu cúng, nhưng bệnh tình vẫn ngày càng trầm trọng, thuốc men đều không khỏi. Vương rất lo buồn nhưng chỉ yên lặng ứa nước mắt mà thôi.

Bèn cùng các quan văn võ mưu tính chọn thế tử. Vì con trưởng của Chúa là Tín Lễ công Trịnh Túc mất sớm, nên Vương tử thứ 2 là Trịnh Tráng được phong làm Thanh quận công, đảm nhận chính vụ trong phủ đã lâu, coi như đã nắm chắc ngôi Thế tử. Điều này khiến Vương tử thứ 3 là Trịnh Xuân không phục.

Ngày 14/7 theo đề nghị của các quan, cho con trưởng Thanh quận công Tráng giữ binh quyền, Vạn quận công Xuân làm phó giữ binh quyền. Trịnh Xuân không chịu và tiến hành nổi loạn.

Ngày 15/7 Xuân cùng Quận Biện đem quân vào phủ. Quân túc vệ kinh hãi chạy tan. Trịnh Tùng thấy quân vào, thì trỗi dậy, dùng kim thương mà đâm bừa. Quân lính không dám đến gần, lại vào kho vải, lấy vải vứt đầy trước mặt Trịnh Tùng, rồi đặt ông lên võng đưa ra ngoài cửa phủ. Trịnh Tùng trông thấy Xuân giận quát mắng: Mày sao nỡ làm thế, đạo làm con để đâu?.

Trịnh Xuân kinh sợ, rút quân ra ngoài thành, cướp lấy voi, ngựa, của báu, rồi nhân đó vung lửa đốt. Đô thành đại loạn. Còn Trịnh Tráng nghe có loạn, không biết tin tức về cha mình, bèn sai em là Trịnh Giai rước nhà vua về Ninh Giang, còn mình tự lưu lại ở Nhân Mục, hội họp các quan văn võ cùng bọn Nguyễn Văn Giai bàn bạc việc quân. Về phía Chúa, hầu hạ và bảo vệ ở bên cạnh chỉ có Quận Nhạc Bùi Sĩ Lâm, Văn Thuỵ hầu Phùng Văn Minh, cùng Đường Thọ hầu. Trịnh Tùng bảo bọn Sĩ Lâm đưa mình ra khỏi kinh sư đóng ở xứ Quán Bạc (phường Hồng Mai, huyện Thanh Trì). Rồi sai Sĩ Lâm đưa mình về dinh của người em là Trịnh Đỗ. Đỗ sai cơm nước hầu hạ và cho con là Quận Thạc đến rước thế tử; nhưng thế tử nghi ngờ Quận Thạc có ý khác nên không đi.

Đỗ sai Quận Thạc đến chỗ Xuân nói dối là muốn trao binh quyền. Xuân hí hửng cùng mấy chục người yết kiến tại Quán Bạc (nay là quận Hoàng Mai, Hà Nội), miệng ngậm cỏ phủ phục ở sân. Đỗ sai dũng sĩ bắt lấy. Trịnh Tùng gượng bệnh ngồi dậy, kể tội nhưng chưa giết và sai giam cùm lại để đợi giao cho luận tội. Trịnh Đỗ sai Sĩ Lâm chặt chân của Xuân cho đến chết. Trịnh Tùng thấy Xuân chết, trong lòng xúc động.

Ngày 16/7 buổi sớm, chúa đang nằm hấp hối thì bị Sĩ Lâm cùng 60 quân hộ vệ còn lại hộ tống đón thế tử đưa ra khỏi cung điện, nhưng Trịnh Tráng đã rời về Thanh Hoa. Trên đường đưa chúa ra chùa Thanh Xuân (huyện Thanh Oai) chưa kịp đến nơi thì Chúa mất, thọ 73 tuổi. 

Cha con Trịnh Đỗ bỏ xác ông lại trên cầu, may nhờ có viên hoạn quan là thái bảo Nhạc Quận công đem thi hài của ông chuyển đến chỗ Trịnh Tráng ở Ninh Giang phát tang. Rồi sai 13 chiếc thuyền đưa linh cữu theo đường thủy về táng ở Thanh Hóa. Trịnh Tráng nối ngôi, tức là Văn Tổ Nghị vương.

5. Giải thưởng và tôn vinh

Vị chúa đầu tiên trong triều chúa Trịnh và là vị chúa thứ 2 của dòng họ Trịnh.

Người giết nhiều vua nhất trong lịch sử Việt Nam

Sử sách ghi nhận là nhà chỉ huy quân sự tài ba

Vua nhà Minh tặng 8 chữ vàng: Quang hưng tiền liệt, Đinh quốc nguyên huân và ban đai ngọc, mũ xung thiên, ngựa tốt; đồng thời ca ngợi là Chân anh hùng và tặng tôn hiệu Đại nguyên soái.

Khi mất được tôn phong Triết Vương miếu hiệu là Thành Tổ. Chính kỵ là ngày 18/2 (AL)

Mộ táng tại làng Sáo Sơn, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

6. Tham khảo

– Internet

vi.wikipedia.org

trithucvn.org

vinhloc.thanhhoa.gov.vn

chungta.com

tienphong.vn

yeusuviet.wordpress.com

– Ấn phẩm

Đại Việt Sử ký Toàn thư

Lịch triều hiến chương loại chí – Phan Huy Chú

Đại Việt thông sử

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *