1. Thông tin

– Tên gọi: Ngô Từ hay Lê Từ

Dùng quốc tính họ vua

Tước hiệu: Bàng Khê hầu; Thụy hiệu: Bàng khê Thượng sĩ

– Sinh ngày 2/5/1370 (Canh Tuất) tại Động Bàng (Khả Lam), An Định, phủ Thanh Hóa, Đại Việt (nay là Định Hòa, Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam)

Mất ngày 8/3/1453 (Quý Dậu nhuận) (84 tuổi) tại tỉnh Thanh Hóa, Đại Việt (nay là tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

– Là chính trị gia thời nhà Trần trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNgô Tâybà nộiTrịnh Thị Kim

– Bố Ngô KinhmẹLê Thị Mười

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với 2 vợ là Đinh Thị Ngọc Kế và Đinh Thị Ngọc Son

– Có 19 người con: (11 con trai và 8 con gái)

Con trai: Ngô Việt, Ngô Lộc, Ngô Hồng, Ngô Ký, Ngô Khế, Ngô Lan, Ngô Nạp, Ngô Hộ, Ngô Lương, Ngô Hựu, Ngô Nhạn

Con gái: Ngô Thị Ngọc Liêu, Ngô Thị Ngọc Phúc, Ngô Thị Ngọc Đức, Ngô Thị Ngọc Thung, 3Ngô Thị Ngọc Dao, Ngô Thị Ngọc Lũy, Ngô Thị Ngọc Vỹ, Ngô Thị Ngọc Hạ.

c) Hậu duệ

– Cháu nội:

– Cháu ngoại: Lê Thánh Tông

3. Con người và tính cách

Tướng mạo dị thường, mình cao 7 thước rưỡi, mặt nổi nhiều ngấn, mũi to tai rộng, tính tình trung hậu, ít nói

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con cả trong gia đình 5 anh em (Ngô Từ, Ngô Đức, Ngô Khiêm, Ngô Đam, Ngô Thị Ngọc San)

Niên hiệu Thiệu Khánh triều Trần

Phả cũ dẫn truyền thuyết chép: Thủa hàn vi, Ngô Kinh đi cày ở sách Khả Lam, trời mờ sáng, thấy con vật lạ giống con rắn dài vài trượng từ trong núi ra, trên không có đám mây màu vàng bay là là, con vật dương vây lượn vài vòng rồi bay vút lên không. Cùng đêm ở nhà bà vợ thấy con rồng đỏ trong buồng đi ra, theo sau là con rồng vàng, vảy đỏ như son, ánh sáng toả ra khắp nhà, cả hai con cùng bay lên trời. Lúc này bà đang mang thai nên rất mừng vì thấy điềm lành.
Đến ngày bà trở dạ, Ngô Kinh đang cày ruộng cảm thấy mỏi mệt, nằm xuống bờ ruộng ngủ thiếp đi, mơ thấy một người mũ cao áo rộng tự xưng là Tào tinh quân, nói Ngọc Hoàng Thượng đế sai xuống đầu thai vào nhà ông. Tỉnh dậy vội về nhà, bà đã sinh con trai, đặt tên là Từ.

Làm gia nô cho nhà Lê Khoáng, được sai chăm nuôi con út là Lê Lợi.

Năm 1418 (Mậu Tuất) Lê Lợi hỏi ý kiến Ngô Từ về việc dấy binh. Ngô Từ bàn:

Thế quân Minh đang mạnh, chúng vừa dẹp xong các cuộc nổi dậy ở các nơi, lực lượng ta còn mỏng (lúc này mới có 350 người) dấy binh sớm e rằng sẽ gặp khó khăn, chi bằng ta hãy nán lại ít lâu, liên lạc với các nơi, tổ chức thêm lực lượng, khi có thời cơ tốt mới dấy binh, mới là thượng sách.

Lê Lợi nói:

Quân Minh tàn bạo, dân tình cực khổ lắm rồi, để lâu ngày chúng sẽ vững chân đứng hơn, sẽ khó thêm cho ta. Lực lượng mỏng thì vừa đánh vừa tổ chức.

Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Ngô Từ xin theo ra mặt trận, Lê Lợi khuyên:

Binh, lương là hai việc rất cấp thiết lúc này, ta chưa biết giao cho ai. Nhà ngươi cần phải ở lại Lam Sơn, cùng ông cụ (Ngô Kinh) thu nạp nhân tài các nơi về, sản xuất nhiều lương thực gửi ra mặt trận, để ta chuyên ý cùng các tướng lo việc ra quân, bên trong là việc điều binh, cấp lương, bên ngoài là việc phòng kẻ địch dòm ngó, hai việc đó nhà ngươi phải hoàn toàn đảm nhiệm. Người xưa nói công giữ gìn căn cứ địa và công đánh giặc ngang nhau, nhà ngươi thấu hiểu ý ta nói chứ?

Ngô Từ tiến cử Nguyễn Trãi rất được lòng Lê Lợi, lại tiến cử Đinh Liệt, Bùi Bị đều là danh tướng, được ví như  Sầm Bành, Mã Võ của Lê Lợi.

Từ Quan Hoá, Lê Lợi cùng một số tướng trung kiên như Đỗ Bí, Nguyễn Xý rút lên núi Chí Linh (thuộc Thường Xuân – Lang Chánh). Ở đây bị quân Minh vây khốn, không có gì ăn, Ngô Từ phải dùng đến lực lượng trẻ chăn trâu cắt cỏ, giấu cơm nắm lương khô vào cỏ rác, đặt vào các bụi rậm quanh nơi giấu quân, đêm đêm quân lính ra sục tìm mang về chia nhau chống đói.
Ngô Kinh, Ngô Từ vừa sản xuất lương thực vừa tuyển quân gửi ra mặt trận, vừa  tổ chức phục binh đánh lui nhiều cuộc vây ráp của địch hòng tiêu diệt căn cứ. Phàm những việc Lê Lợi dặn dò uỷ thác đều làm tròn.

Năm 1423 (Quý Mão) tạm thời hoà hoãn với quân Minh, Lê Lợi đem quân về Lam Sơn củng cố, ban thưởng công lao, phong Ngô Kinh là Kiện Tướng hầu, Ngô Từ là Bàng Khê hầu. Con cháu trưởng thành đều ra mặt trận.

Năm 1428 (Mậu Thân) thiên hạ được thái bình. Nhân dịp phong tước cho các công thần Phạm Văn Xảo, Lê Vấn. Lê Lợi nói với các tướng:

Các khanh theo trẫm ra trận, được cung cấp đầy đủ lương thực, đó là công lao của cha con Ngô Kinh, Ngô Từ. Trẫm khi chưa khởi binh thì Ngô Kinh là gia nô của tiên khảo, Ngô Từ là nô thần của trẫm. Ban đầu xướng nghĩa, Từ là người quyết mưu trước nhất. Trẫm cùng với các khanh mưu việc thiên hạ, ẩn náu nơi núi rừng trông nhờ vào cha con Ngô Kinh, Ngô Từ giữ gìn căn cứ địa, cung đốn lương thảo, điều động binh sĩ. Xưa kia Hán Cao Tổ được thiên hạ, quy công cho Tiêu Hà giữ đất Quan Trung, cung đốn không ngừng lương thảo là công bậc nhất. Nay cha con Ngô Kinh, Ngô Từ đã có công giữ gìn căn cứ, lại có thành tích đánh giặc, đáng được thăng đệ nhất công thần.

Bèn thăng thụ Ngô Kinh làm Thái phó Hưng Quốc công, Ngô Từ làm Bình Ngô khai quốc đệ nhất công thần Bàng Khê hầu, thăng thụ Thái bảo Chương Khánh công Tả kim ngô vệ thượng tướng quân, chỉ nội đại hành khiển Phụ quốc chính gia đại trí tự và được ban quốc tính, lấy họ nhà vua, đổi là Lê Từ.

Lê Thánh Tông phong tặng Dụ Vương bảo phong Diên ý Dụ Vương, Chương khánh Công, cho lấy lại họ Ngô.

Ngày 8/3/1453 (Quí Dậu, Nhân Tông thứ 11), Ngô Từ mất, thọ 84 tuổi, được ban thụy Bàng khê Thượng sĩ.

5. Giải thưởng và vinh danh

Mộ táng tại xứ Lỗ Đó

Lê Thánh Tông truy tặng Duyên Ý Dụ Vương thờ tại Phúc Quang Từ Đường tại xã Định Hòa, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Vua Gia Long triều Nguyễn lên ngôi, chọn các Khai quốc công thần lục phong, triều Lê chọn được 15 người, Ngô Từ được chọn xếp vào hàng hai, cho một người con cháu trong dòng trưởng được miễn mọi thứ sưu dịch, lo việc hương khói từ đường.

Năm 1993 tôn tạo lại mộ phần

Năm 2004 tôn tạo lại mộ phần

6. Tham khảo

– Internet

vi.wikipedia.org

ngotoc.vn

– Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (Đinh Dậu 1477, niên hiệu Hồng Đức Lê Thánh Tông)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *