1. Thông tin

– Tên tác phẩm: Đoạn trường tân thanh hồi 16

Tên gọi khác: Truyện Kiều

– Tác giả: Nguyễn Du

– Thời gian sáng tác:

– Ngôn ngữ chính: Tiếng Việt

3. Nội dung

Ngậm miệng dám kêu oan, đoạ thân địa ngục,

Sao kinh khuây nỗi ức, gửi bóng thuyền am.

Bốn phương mây trắng một màu,

Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

Lần lần tháng trọn ngày qua,

1790. Nỗi gần nào biết đường xa thế này.

Lâm Tri từ thuở uyên bay,

Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.

Mày ai trăng mới in ngần,

Phần thừa hương cũ bội phần xót xa.

1795. Sen tàn cúc lại nở hoa,

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.

Tìm đâu cho thấy cố nhân?

Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.

Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,

1800. Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.

Tiểu thư đón cửa giãi giề,

Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.

Nhà hương cao cuốn bức là,

Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.

1805. Bước ra một bước một dừng,

Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:

Phải chăng nắng quáng đèn lòa,

Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?

Bây giờ tình mới rõ tình,

1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.

Chước đâu có chước lạ đời?

Người đâu mà lại có người tinh ma?

Rõ ràng thật lứa đôi ta,

Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.

1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,

Mà trong nham hiểm giết người không dao.

Bây giờ đất thấp trời cao,

Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?

Càng trông mặt càng ngẩn ngơ,

1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.

Sợ uy dám chẳng vâng lời,

Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.

Sinh đà phách lạc hồn siêu:

Thương ơi chẳng phải nàng Kiều ở đây?

1825. Nhân làm sao đến thế này?

Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi!

Sợ quen dám hở ra lời,

Không ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.

Tiểu thư trông mặt hỏi tra:

1830. Mới về có việc chi mà động dong?

Sinh rằng hiếu phục vừa xong,

Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên.

Khen rằng: Hiếu tử đã nên!

Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu.

1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,

Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.

Bắt khoan bắt nhặt đến lời,

Bắt quì tận mặt bắt mời tận tay.

Sinh càng như dại như ngây,

1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.

Ngảnh đi chợt nói chợt cười,

Cáo say chàng đã giạm bài lảng ra.

Tiểu thư vội thét: Con Hoa!

Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn.

1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,

Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.

Tiểu thư cười nói tỉnh say,

Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.

Rằng: Hoa nô đủ mọi tài,

1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.

Nàng đà tán hoán tê mê,

Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.

Bốn dây như khóc như than,

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.

1855. Cùng chung một tiếng tơ đồng,

Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.

Giọt châu lã chã khôn cầm,

Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.

Tiểu thư lại thét lấy nàng:

1860. Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi\?

Sao chẳng biết ý tứ gì?

Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi.

Sinh càng thảm thiết bồi hồi,

Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.

1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,

Tiểu thư nhìn mặt dường đà can tâm.

Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:

Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay.

Sinh thì gan héo ruột đầy,

1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.

Người vào chung gối loan phòng,

Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:

Bây giờ mới rõ tăm hơi,

Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!

1875. Chước đâu rẽ thúy chia uyên,

Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.

Bây giờ một vực một trời,

Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.

Nhẹ như bấc nặng như chì,

1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?

Lỡ làng chút phận thuyền quyên,

Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?

Một mình âm ỉ đêm chày,

Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh.

1885. Sớm trưa hầu hạ đài doanh,

Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra.

Lựa lời nàng mới thưa qua:

Phải khi mình lại xót xa nỗi mình.

Tiểu thư hỏi lại Thúc Sinh:

1890. Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao!

Sinh đà rát ruột như bào,

Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng đang!

Những e lại lụy đến nàng,

Đánh liều mới sẽ lựa đường hỏi tra.

1895. Cúi đầu quỳ trước sân hoa,

Thân cung nàng mới dâng qua một tờ.

Diện tiền trình với Tiểu thư,

Thoạt xem dường có ngẩn ngơ chút tình.

Liền tay trao lại Thúc Sinh,

1900. Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương!

Ví chăng có số giàu sang,

Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!

Bể trần chìm nổi thuyền quyên,

Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời!

1905. Sinh rằng: Thật có như lời,

Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay!

Nghìn xưa âu cũng thế này,

Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa.

Tiểu thư rằng: ý trong tờ,

1910. Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Không.

Thôi thì thôi cũng chiều lòng,

Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra.

Sẵn Quan âm các vườn ta,

Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa.

6. Tham khảo

– Internet

thivien.net

– Ấn phẩm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *