1. Thông tin

– Tên tác phẩm: Đoạn trường tân thanh hồi 14

Tên gọi khác: Truyện Kiều

– Tác giả: Nguyễn Du

– Thời gian sáng tác:

– Ngôn ngữ chính: Tiếng Việt

3. Nội dung

Bao nỗi yêu thương, chia ly sao nỡ?

Tấm lòng ghen tức, bưng kín ai hay?

Bày hàng cổ xúy xôn xao,

Song song đưa tới trướng đào sánh đôi.

Thương vì hạnh trọng vì tài,

1470. Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba.

Huệ lan sực nức một nhà,

Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa.

Mảng vui rượu sớm cờ trưa,

Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh.

1475. Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh,

E tình nàng mới bày tình riêng chung:

Phận bồ từ vẹn chữ tòng,

Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.

Tin nhà ngày một vắng tin,

1480. Mặn tình cát lũy lạt tình tào khang.

Nghĩ ra thật cũng nên đường,

Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta?

Trộm nghe kẻ lớn trong nhà,

Ở vào khuôn phép nói ra mối đường.

1485. E thay những dạ phi thường,

Dễ dò rốn bể khôn lường đáy sông!

Mà ta suốt một năm ròng,

Thế nào cũng chẳng giấu xong được nàọ

Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao,

1490. Hoặc là trong có làm sao chăng là?

Xin chàng kíp liệu lại nhà,

Trước người đẹp ý sau ta biết tình.

Đêm ngày giữ mức giấu quanh,

Rày lần mai lữa như hình chưa thông.

1495. Nghe lời khuyên nhủ thong dong,

Đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang.

Rạng ra gửi đến xuân đường,

Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.

Tiễn đưa một chén quan hà,

1500. Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.

Sông Tần một dải xanh xanh,

Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan.

Cầm tay dài ngắn thở than,

Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời.

1505. Nàng rằng: Non nước xa khơi,

Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.

Dễ lòa yếm thắm trôn kim,

Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!

Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,

1510. Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.

Dù khi sóng gió bất tình,

Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi.

Hơn điều giấu ngược giấu xuôi.

Lại mang những việc tày trời đến sau.

1515. Thương nhau xin nhớ lời nhau,

Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy.

Chén đưa nhớ bữa hôm nay,

Chén mừng xin đợi ngày này năm sau!

Người lên ngựa kẻ chia bào,

1520. Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Dặm hồng bụi cuốn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

Người về chiếc bóng năm canh,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

1525. Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Kể chi những nỗi dọc đường,

Buồn trong này nỗi chủ trương ở nhà:

Vốn dòng họ Hoạn danh gia,

1530. Con quan Lại bộ tên là Hoạn thư.

Duyên đằng thuận nẻo gió đưa,

Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.

Ở ăn thì nết cũng hay,

Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.

1535. Từ nghe vườn mới thêm hoa,

Miệng người đã lắm tin nhà thì không.

Lửa tâm càng dập càng nồng,

Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa:

Ví bằng thú thật cùng ta,

1540. Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên.

Dại chi chẳng giữ lấy nền,

Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?

Lại còn bưng bít giấu quanh,

Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!

1545. Tính rằng cách mặt khuất lời,

Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho!

Lo gì việc ấy mà lo,

Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?

Làm cho nhìn chẳng được nhau,

1550. Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!

Làm cho trông thấy nhãn tiền,

Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

Nỗi lòng kín chẳng ai hay,

Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

1555. Tuần sau bỗng thấy hai người,

Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.

Tiểu thư nổi giận đùng đùng:

Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!

Chồng tao nào phải như ai,

1560. Điều này hẳn miệng những người thị phi!

Vội vàng xuống lệnh ra uy,

Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng.

Trong ngoài kín mít như bưng.

Nào ai còn dám nói năng một lời!

1565. Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,

Ra vào một mực nói cười như không.

Đêm ngày lòng những dặn lòng,

Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên.

Lời tan hợp nỗi hàn huyên,

1570. Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng.

Tẩy trần vui chén thong dong,

Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra.

Chàng về xem ý tứ nhà,

Sự mình cũng rắp lân la giãi bày.

1575. Mấy phen cười nói tỉnh say,

Tóc tơ bất động mảy may sự tình.

Nghĩ đà bưng kín miệng bình,

Nào ai có khảo mà mình đã xưng?

Những là e ấp dùng dằng,

1580. Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.

Có khi vui chuyện mua cười,

Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu.

Rằng: Trong ngọc đá vàng thau,

Mười phần ta đã tin nhau cả mười.

1585. Khen cho những chuyện dông dài,

Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.

Thiếp dù bụng chẳng hay suy,

Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười!

Thấy lời thủng thỉnh như chơi,

1590. Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn.

Những là cười phấn cợt son,

Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai.

Thú quê thuần hức bén mùi,

Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

1595. Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,

Một màu quan tái mấy mùa gió trăng.

Tình riêng chưa dám rỉ răng,

Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:

Cách năm mây bạc xa xa,

1600. Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn.

Được lời như cởi tấc son,

Vó câu chẳng ruổi nước non quê người.

Long lanh đáy nước in trời,

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

1605. Roi câu vừa gióng dặm trường,

Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh.

6. Tham khảo

– Internet

thivien.net

– Ấn phẩm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *