1. Thông tin

– Tên gọi: Nguyễn Nễ hay Nguyễn Đề (阮提)

Tự: Nhất Quế, Tiến Phủ

Hiệu: Quế Hiên (桂軒), Tỉnh Kiên. Biệt hiệu: Văn Thôn Cư Sĩ

Gia phả ghi là Quế Hiên công

Tước hiệu: Xu mật viện sự, Tả đồng nghị Trung thư sảnh

– Sinh năm 1761 (tức ngày 13/2/Tân Tỵ) tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, Đại Nam (nay là tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam).

Mất năm 1805 (44 tuổi) tại Thăng Long, Đại Nam (nay là Tp. Hà Nội, Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Nam

Dân tộc: Kinh

– Là chính trị gia thời Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nội Nguyễn Quỳnh

– Ông ngoại: Trần Ôn

– Bố Nguyễn ThiềumẹTrần Thị Tần

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với 2 vợ là Trịnh Thị và 2

– Có 3 người con:

Con trai: Nguyễn Giai, Nguyễn Lịch, Nguyễn Vĩ.

c) Hậu duệ

3. Con người và tính cách

Wikipedia cho rằng: Ông làm quan với Tây Sơn và nhà Nguyễn khá tự nguyện và hăm hở, không mặc cảm, ít vướng bận nghĩa “trung quân”, thậm chí có lúc ông còn chỉ trích những người bảo thủ, lánh đời. Vì chuyện này, ông phải chịu không ít lời gièm pha. […] Có tấm lòng nhân nghĩa, vị tha; có tâm hồn sâu lắng và nhiều trăn trở…

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con thứ 6 trong gia đình có 21 anh chị em (Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Trụ, Nguyễn Quýnh, Nguyễn Trừ, Nguyễn Đề, Nguyễn Nhưng, Nguyễn Du, Nguyễn Ức, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Tốn, Nguyễn Lạng, Nguyễn Nghi, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Thị Tuyết, Nguyễn Thị Ninh)

Nhờ cha làm quan Tể tướng, nên những năm tháng thiếu thời ông sống khá yên vui cùng các anh em trong một cơ ngơi bề thế ở phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long.

Năm 1768, khi 7 tuổi, ông được tập ấm: Hoằng tín đại phu, Trung thành môn vệ úy, Khuê Nhạc bá.

Năm 1775 (Ất Mùi) khi 14 tuổi, anh trai là Nguyễn Trụ qua đời.

Năm 1776 (Bính Thân) khi 15 tuổi, thân phụ là Nguyễn Nghiễm mất.

Năm 1778 (Mậu Tuất) khi 17 tuổi, thân mẫu là bà Trần Thị Tần cũng tạ thế.

Năm 1780 (Canh Tý) khi 19 tuổi, đỗ đầu kỳ khảo khóa ở Quốc tử giám.

Năm 1783, ông đỗ đầu kỳ thi ở huyện Thọ Xương và ở huyện Đông Ngàn. Tháng 10 ông đỗ Giải nguyên khoa thi Hương ở điện Phụng Thiên.

Năm 1786, ông được vua Lê Hiển Tông bổ làm Thị nội văn chức, giữ việc thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh; rồi kiêm Phó Tri Thị nội Thư tả Lại phiên ở phủ chúa. Sau nữa, ông thăng Xu mật viện sự Đức Phái hầu. Quân Tây Sơn ra Bắc, ông được vua Lê Chiêu Thống giao giữ chức Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây.

Năm 1789 (Kỷ Dậu), vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, ông theo không kịp phải lánh về quê mẹ ở Bắc Ninh.

Năm 1790 (Canh Tuất, Quang Trung thứ 3), nhờ người quen đề cử, ông được nhà Tây Sơn mời ra giúp việc từ hàn, tiếp đến là Hàn lâm viện thị thư, rồi được cử làm Phó sứ (do Nguyễn Quang Hiển dẫn đầu) đi đến Yên Kinh tuế cống triều Thanh. Về nước được thăng Đông các đại học sĩ, gia tăng Thái sử, Thự Tả thị lang Nghi Thành hầu.

Tháng 10/1791 (Tân Hợi), anh thứ tư cùng cha khác mẹ với ông là Nguyễn Quýnh do chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết. Dinh cơ, từ đường họ Nguyễn ở Tiên Điền, Hà Tĩnh bị tướng Tây Sơn Lê Văn Dụ đốt cháy, phá hủy, làng Tiên Điền bị làm cỏ vì cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh.

Năm 1793 (Quý Sửu) em trai là Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và vào kinh đô Phú Xuân thăm ông đang làm thái sử ở Viện cơ mật.

Năm 1794 (Giáp Dần, Cảnh Thịnh) ông được thăng Tả phụng nghi bộ Binh, vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ, cai quản tinh binh. Nguyễn Du và Nguyễn Ức được ông giao cho việc về Hồng Lĩnh xây dựng lại từ đường và làng Tiên Điền mà ông bận việc quan không thể trực tiếp trông coi.

Năm 1795, ông được cử sang Trung Quốc lần hai, để chúc mừng vua Thanh là Càn Long làm lễ nhường ngôi cho con là Gia Khánh.

Tháng 2/1796, ông về nước, được phong chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh.

Năm 1797 ông thu xếp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn cưới cô em út Đoàn Nguyễn Thị Huệ cho em trai Nguyễn Du.

Năm 1802, nhà Tây Sơn sụp đổ, ông trốn tránh tại Phú Xuân được Gia Long gọi ra. Nguyễn Đề dâng sớ, vua Gia Long tha chết, mến tài và kính trọng dòng dõi con Xuân Quân Công Nguyễn Nghiễm nên cho đi theo ra Bắc Thành làm việc dưới quyền Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành. Nguyễn Đề cố vấn chỉ dẫn các kinh nghiệm nghi lễ đi sứ, tiếp sứ sang phong vương cho vua Gia Long. Nguyễn Đề hộ giá Gia Long ra Bắc, ngang qua Nghi Xuân, tiến cử Nguyễn Du. Nguyễn Du đón xa giá, theo vua, ra làm quan.

Năm 1805, trong lần về chịu tang người thiếp, ông bị một viên Tri phủ truy bức nhân có một vụ việc tại làng. Rồi vì quá uất ức, ông đã qua đời lúc 44 tuổi.

5. Tác phẩm và công trình tiêu biểu

– Thơ

Tập thơ Quế Hiên giáp, ất tập

Tập thơ Hoa trình tiêu khiển tập

– Văn bản

Quốc âm

Biểu

6. Tham khảo

– Internet

vi.wikipedia.org

– Ấn phẩm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *