1. Thông tin

– Tên gọi: Nguyễn Thiều (玿) hay Nguyễn Nghiễm (阮儼)

Biểu tự: Hy Tư (希思)

Nghĩa là Hy vọng được như Tử Tư

Hiệu: Nghị Hiên (毅軒); Biệt hiệu: Hồng Ngư cư sĩ (鴻魚居士); Tước hiệu: Xuân quận công; Thụy hiệu: Trung Cần công.

Hồng Ngư cư sĩ được lấy theo địa danh, nhà ở phía nam núi Hồng Lĩnh, phía bắc đảo Song Ngư

– Sinh ngày 14/4/1708 (tức ngày 14/3/Mậu Tý) tại thôn Lương Năng, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Đại Nam (nay là xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam). Quê tổ ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội, Việt Nam).

Có văn bản cho rằng ông sinh giờ Tuất ngày 6/3/1708 (tức ngày 14/1 nhuận/Mậu Tí)

Mất ngày 7/1/1776 (tức ngày 17/11) (67 tuổi) tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Đại Nam (nay là thôn Tiên Thanh, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Nam

Dân tộc: Kinh

Là chính trị gia thời Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNguyễn Thể bà nộiLê Thị

– BốNguyễn Quỳnh

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với 8 vợ: Đặng Thị Dương, Đặng Thị Tuyết, Trần Thị Tần, Nguyễn Thị Xuyên, Nguyễn Thị Xuân, 6, 7, 8.

– Có 21 người con: (12 con trai và 9 con gái)

Con trai: Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Trụ, Nguyễn Trừ, Nguyễn Quýnh, Nguyễn Đề (Nễ), Nguyễn Du, Nguyễn Lễ, Nguyễn Ức, Nguyễn Nhưng, Nguyễn Tùng, Nguyễn Đăng,

Con gái: Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Thị Ninh,

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Nguyễn Hành, Nguyễn Tứ, Nguyễn Ngũ, Nguyễn Y,

3. Con người và tính cách

Thuở nhỏ Nguyễn Nghiễm thông minh học giỏi, các lần khảo thí ở huyện ở phủ Nghiễm đều đỗ đầu, các câu Nghiễm đối đáp với các quan huyện quan phủ được người địa phương truyền tụng v.v… […] Các bài văn thi tứ trọng của Nguyễn Nghiễm phần nhiều có điểm tối ưu, được yết bảng treo ngoài cửa Thái học, danh tiếng Nguyễn Nghiễm ở chốn kinh đô đã khá vang lừng.

Sử gia Phan Huy Chú nhận định về ông như sau: Ông tài lược văn võ, lúc nhỏ học giỏi thi đỗ. Trải thờ 3 triều, quanh quẩn chỗ đài thự, vào làm tướng văn ra làm tướng võ, ở ngôi Tể tướng 15 năm. Ông sắp đặt gọn mọi việc bề bộn, đối xử ứng tiếp lúc nào cũng như lúc nào, Ân vương (Trịnh Doanh) thường khen là người có đức vọng tài trí. Là bậc nguyên lão trong nước, làm cột đá cho triều đình, công lao và danh vọng long trọng, đời bấy giờ ai cũng khen ngợi.

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con thứ 2 trong gia đình có 12 anh chị em (Nguyễn Huệ, Nguyễn Thiều, Nguyễn Trọng, Nguyễn Thanh, Nguyễn Bích, Nguyễn Tín, Nguyễn Sĩ, Nguyễn Huyền, Nguyễn Hằng).

Năm 1724 (đời Lê Dụ Tông) khi 17 tuổi, đỗ thi Hương.

Năm 1731 (đời Lê Duy Phường) thi Hội xếp thứ 8, thi Đình được ban Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tức đỗ Hoàng giáp), được gọi là Thiếu tuấn (Người trẻ tuổi nhất khoa). Nguyễn Nghiễm được vào triều làm quan, làm đốc suất quân nhung, Hiệp đồng tán nhiệm với các tướng khác trong triều, có công lao.

Năm 1733 có chuẩn làm Đồng giám khảo thi Hội, nhưng khoa này có anh trai là Nguyễn Huệ đăng ký tên dự thi, theo lệ “hồi tị” phải tránh nên được về quê nghỉ. Sau đó bị ốm nên điều trị ở quê hơn 1 năm.

Tháng 7/1734 mới về triều nhận chức Hàn lâm viện Đãi chế (một chức quan tập sự). Tháng 6 cha mất nên phải về quê, đến tháng 8 lại cư tang mẹ.

Tháng 11/1737 được bổ làm Hiến sát sứ Thanh Hoa

Tháng 5/1740 (tháng 4/Canh Thân) triều đình triệu về kinh hiệp đồng với Trì Trạc hầu đi đánh dẹp ở Cẩm Giàng (Hải Dương). Tháng 6 cùng Trì Trạch hầu đưa quân đi thu phục trấn sở Kinh Bắc. Làm Quyền tán lý, hiệp đồng với Nghiêm quận công Trịnh Trạch đi đánh đạo Đông Bắc. Tháng 8 cùng Trương Trang và Đôn Lãng hầu hiệp đồng với Cổn quận công Trương Khuông đi đánh dẹp ở các xã Phạm Lâm, Đoàn Lâm (Thanh Miện, Hải Dương). Đi tuyển lính mộ ở Nghệ An. Nguyễn Nghiễm cùng các đại thần bàn nhau phế Trịnh Giang lập Trịnh Doanh làm chúa.

Tháng 4/1741 (tháng 3/Tân Dậu) đi Đông Bắc về được cải bổ Quốc tử giám Tế tửu (hàm tòng tứ phẩm). Dàn trận ở bến Kim Luông để đối phó với quân của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ đang bao vây uy hiếp kinh đô ở bờ bắc sông Nhị Hà. Nhiều lần đi đánh Lê Duy Mật ở miền Tây Thanh Hoá, lên Sơn Tây đánh phiến quân Nguyễn Danh Phương ở đồn Ngọc Bội, lên Hưng Hóa đánh căn cứ của Hoàng Công Chất, xuống Sơn Nam Hạ đánh phiến quân Ngân Già, lại lên Sơn Tây đánh quân của Đồ Tế chiếm châu Sơn Dương, sang Kinh Bắc dẹp quân của Nho Bồng chiếm huyện Phương Nhãn v.v… Nhờ công sách lập Trịnh Doanh, Nguyễn Nghiễm được thăng làm Tham chính Sơn Nam. Nhân dân xây dựng đền thờ Xuân quận công Nguyễn Nghiễm (còn gọi là đền Đại Vương Hai). Ít lâu sau, đổi làm Tế tửu Quốc Tử Giám.

Năm 1743 được thăng làm Thừa chỉ Viện hàn lâm, tước Xuân Lĩnh bá.

Năm 1746, nhờ có công lao, được phong làm Hữu thị lang bộ Công, thăng lên tước hầu và được đặc cách dự chức Bồi tụng trong tướng phủ.

Năm 1748 tình hình ở Đàng Ngoài không yên ổn, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Nguyễn Nghiễm được làm Tuyên phủ sứ tán lý quân vụ, quản cơ Trấn nội, chức Tham lĩnh, tước Lệ quận công, vào Nghệ An đánh dẹp. Thắng trận trở về, được thăng làm Thị lang bộ Hình. Ít lâu sau, quân nổi dậy ở vùng núi Thanh Hóa lại ra, được sai làm Hiệp đồng đến đánh thành lũy quân địch. Nguyễn Nghiễm đánh đâu thắng đó. Quân nổi dậy bèn đi theo đường tắt đánh vào trị sở Thanh Hoa, quân triều đình thua chạy. Nguyễn Nghiễm mang quân về cứu, chiếm lại được dinh.

Đầu năm 1750, triều đình quy cho ông trách nhiệm để thất thủ Thanh Hoa nên bị giáng làm Đại học sĩ đông các. Cuối năm đó, Trịnh Doanh đi đánh quân khởi nghĩa của thủ lĩnh Tương ở Sơn Tây, sai Nguyễn Nghiễm làm Tán lý giữ trách nhiệm hộ giá. Cùng tham gia dẹp được quân Tương, nên được thăng làm Thiêm đô ngự sử.

Đầu năm 1752, được lệnh ra 4 đạo Sơn Tây, Hưng Hóa đánh hoàng thân Lê Duy Mật. Thắng trận trở về, được khôi phục chức cũ.

Năm 1753 lại có công trận, được thăng làm Phó đô ngự sử. Cuối năm, được Trịnh Doanh giao làm Đốc lĩnh ở Thanh Hoa để dẹp các lực lượng nổi dậy trong vùng núi. Nguyễn Nghiễm tiến quân đến nơi, các lực lượng nổi dậy không chống nổi, bỏ chạy sang Ai Lao. Ông chia quân tiến vào Ai Lao nhưng quân khởi nghĩa đã chạy xa, nên mang quân trở về.

Giữa năm 1754, triều đình mở thi Hội, Nguyễn Nghiễm được Trịnh Doanh cử làm Tả giám thị.

Năm 1755, được cử làm Hiệp trấn Nghệ An.

Năm 1756 được gọi về triều thăng làm Vực quận công đi đánh lực lượng nổi dậy ở Kinh Bắc. Nguyễn Nghiễm thắng trận.

Cuối năm 1757 được thăng làm Tả thị lang bộ Hình.

Năm 1761, triều đình xét công đánh quân nổi dậy, được thăng làm Ngự sử, rồi Thượng thư bộ Công và vào phủ làm bồi tụng (thừa tướng), từ đó thôi không giữ việc quân mà phụ trách đội Nghiêm hữu thuộc vệ quan thị hậu. Ít lâu, thêm chức Trung thư giám Quốc Tử Giám và kiêm coi Đông các, rồi làm Tổng tài Quốc sử quán.

Mùa hạ năm 1764, được thăng hàm Thiếu phó.

Tháng 11/1767 (tức tháng 9 nhuận/Đinh Hợi năm Cảnh Hưng) được bổ chức Tri Quốc tử giám. Trịnh Doanh chết, Trịnh Sâm lên thay thăng Nguyễn Nghiễm làm Thái tử thái bảo, tước Xuân quận công, bồi tụng (tể tướng).

Cuối năm 1771 bèn xin về hưu ở làng Tiền Điền.

Tháng 3/1772 Trịnh Sâm lại mời ra làm Tể tướng, rồi Thượng thư bộ Hộ.

Năm 1774, trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Đạt hay biết tình hình nội biến Đàng Trong có anh em Tây Sơn nổi dậy, bèn viết thư về triều nói rằng Thuận Hóa có thể đánh lấy được. Ông và Hoàng Ngũ Phúc đều tán thành việc này. Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm bèn quyết chí ra quân. Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả tướng, theo Hoàng Ngũ Phúc, Bùi Thế Đạt mang 3 vạn quân đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Liên tiếp thắng trận.

Tháng 4/1775 đánh chiếm được Phú Xuân. Hoàng Ngũ Phúc cử Bùi Thế Đạt ở lại trấn thủ Phú Xuân, còn các tướng trong đó có Nguyễn Nghiễm theo Hoàng Ngũ Phúc tiếp tục đuổi theo chúa Nguyễn vào Quảng Nam. Chúa Nguyễn bỏ chạy vào Gia Định. Quân Trịnh tiếp tục giao tranh với quân Tây Sơn của Nguyễn Nhạc và đánh bại Tây Sơn ở Cẩm Sa khiến Nguyễn Nhạc phải xin hàng. Tháng 7 quân Trịnh bị bệnh dịch tràn lan, bản thân ông và Hoàng Ngũ Phúc đều nhiễm bệnh nặng. Quân Trịnh tiếp tục tiến đến đóng ở Chu Ổ thuộc địa đầu Quảng Ngãi thì dừng lại vì bệnh dịch ngày càng nhiều. Nguyễn Nghiễm bệnh nặng quá, viết thư xin Trịnh Sâm được về quê dưỡng bệnh. Trịnh Sâm chuẩn y. Hoàng Ngũ Phúc chủ trương rút về Thuận Hóa, còn Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Lệnh Tân vẫn đề nghị chia quân đóng giữ Quảng Nam. Cuối cùng Trịnh Sâm nghe lời Hoàng Ngũ Phúc, rút hết quân khỏi Quảng Nam về giữ Thuận Hóa. Tháng 10 cùng Hoàng Ngũ Phúc về tới Phú Xuân. Bùi Thế Đạt ở lại cùng các tướng giữ Thuận Hóa, còn Hoàng Ngũ Phúc và Nguyễn Nghiễm đều trở về bắc dưỡng bệnh, nhưng bệnh cả hai người cùng nhiều đại thần, tướng sĩ ngày càng nặng. Tháng 11 Nguyễn Nghiễm về đến quê nhà ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân trong tình trạng rất gầy yếu.

Ngày 07/1/1776 (tức ngày 17/11) ông qua đời, thọ 68 tuổi.

5. Tác phẩm và công trình tiêu biểu

Cùng Ngô Thì Sĩ viết lời chú và lời bàn trong bộ Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên

– Các tác phẩm khác:

Xuân trung liên vịnh

Xuân Đình tạp vinh

Việt sử bị lãm

Lạng Sơn đoàn thành đồ chí

Cổ lễ nhạc chương thi văn tập

Khổng Tử mộng Chu Công

Sư để Hội An phố đề quan phu tử miếu

6. Giải thưởng và tôn vinh

Trịnh Sâm ban tên thụy cho là Trung Cần và truy phong Thượng đẳng phúc thần. Tôn hiệu Huân du độ hiến đại vương.

Năm 1776 (Bính Thân) dựng đền thờ ở phía tây thôn Bảo Kệ

Năm 1783 (Quý Mão) gia phong Thượng đẳng phúc thần.

Nhân dân Tiên Điền lập đền thờ

7. Tham khảo

– Internet

vi.wikipedia.org

dantri.com.vn

baoquangnam.vn

hannom.org.vn

– Ấn phẩm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *