Chân dung Thần Nông Viêm Đế
Chân dung Thần Nông – Viêm Đế (nguồn: wikipedia)

1. Thông tin

– Tên là Viêm Đế (chữ Hán: 炎帝. Nghĩa là Vua xứ nóng). Hay còn gọi là Xích Đế (赤帝). Họ Khương.

– Hiệu là Thần Nông (phồn thể: 神農, giản thể: 神农), Thần Nông thị (神農氏), Liên Sơn thị (連山氏), Tắc thần (稷神).

– Tự xưng là Dược vương (藥王), Ngũ Cốc vương (五穀王), Ngũ Cốc Tiên Đế (五穀先帝), Thần Nông đại đế (神農大帝) hay Xi Vưu (chữ Hán: 蚩尤. Còn đọc là Xuy Vưu, Si Vưu (蚩尤)).

– Sinh năm 3220 trước Công nguyên tại Trung Quốc.
Mất năm 3080 trước Công nguyên, tại huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

– Người Hán coi Thần Nông và Hoàng Đế là tổ tiên chung của mình với thành ngữ Viêm Hoàng tử tôn (con cháu Viêm Hoàng).

– Là Ông tổ nông nghiệp và cũng được coi là tổ tiên hay thủ lĩnh của Xi Vưu. Hơn nữa được coi là Ông tổ của người Trung Quốc.

– Viêm Đế Thần Nông là vị thần huyền thoại của các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa, một trong Tam Hoàng và được xem là một Anh hùng văn hoá Trung Hoa.

– Người Việt Nam cũng coi Viêm Đế Thần Nông là thủy tổ. Là vị Thần cai quản phương Nam (vùng đất Bách Việt). Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, phần lời tựa của Ngô Sĩ Liên chép:

“Nước Đại Việt ở phía nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã phân chia giới hạn Nam – Bắc. Thủy tổ của ta là dòng dõi họ Thần Nông, thế là trời sinh chân chúa, có thể cùng với Bắc triều mỗi bên làm đế một phương”.

– Cũng theo Đại Việt Sử ký Toàn thư:

“Vua Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa), gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam), xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất 2897 TCN, lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, sinh một lần trăm con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hoả khắc nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua”.

– Truyện Hồng Bàng thị, sách Lĩnh Nam Chích Quái ghi:

“Cháu ba đời Viêm Đế họ Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi nam tuần đến Ngũ Lĩnh, gặp con gái Vụ Tiên đem lòng yêu mến mới cưới đem vê, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan, thông minh túc thành.; Đế Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua; Lộc Tục cố nhường cho anh. Đế Minh lập Đế Nghi làm tự quân cai trị phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương xuống Thủy phủ, cưới con gái vua Động Đình là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm tức là Lạc Long Quân; Lạc Long Quân thay cha để trị nước, còn Kinh Dương Vương không biết đi đâu.

– Ngày nay, khoa học khảo cổ và Tâm linh Việt Nam đã tìm được chứng tích Thần Nông là Nhân Thần, là một trong những Liệt Tổ tài năng. Cụ thể là phát hiện khu di tích, mộ của Liệt Tổ và gia quyến Thần Nông tại huyện Chương Mỹ, Hà Nội, Việt Nam ngày nay. Tại chùa Trầm, huyện Chương Mỹ có tượng thờ Đế Thần (tức vua Thần Nông) trên điện thờ chính trong hang chùa Trầm, có bệ thờ và bát hương bằng đá. Ở phía nam chùa Cực Lạc có điện thờ Thần Nông. Cũng có một số quan điểm dưa theo phân tích, phản bác lại quan điểm Thần Nông là thủy tổ của người Việt (1)

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Dòng dõi họ Khương

– Thân phụ là Thiếu Điển

– Thân mẫu là Nữ Đăng

– Anh em cùng cha khác mẹ là Hoàng Đế

– Theo bổ sung của Tư Mã Trinh vào Sử ký thì Hoàng Đế là bà con cùng dòng dõi.

b) Hôn nhân và con cái

– Theo Sử ký Tư Mã Thiên, phần bổ Tam Hoàng bản kỷ và Tư trị thông giám phần ngoại kỷ thì con trai trưởng là Đế Lâm Khôi (帝临魁, tức Đế Đồi).

– Con gái tên là Tinh Vệ.

c) Hậu duệ

– Cháu nội là Đế Thừa. Con của Đế Lâm Khôi.

3. Con người và tính cách

– Tương truyền, khi ông vừa sinh ra trên trái đất xuất hiện chín cái giếng, nước giữa các giếng tương thông với nhau, nếu múc nước ở một giếng thì tám giếng còn lại sẽ xuất hiện gợn sóng.

– Truyền thuyết dân gian kể rằng, ban đầu ông có thân hình trong suốt nên ông có thể nhìn thấy tác động của các loại cây cỏ khác nhau lên cơ thể mình.

– Theo Christie Anthony, trích từ Chinese Mythology. Feltham: Hamlyn Publishing: Thần Nông cũng là người, có đầu giống đầu bò, sừng nhọn, trán đồng, đầu sắt, đuôi bọ cạp, chân rết.

– Thường được biết với hình tượng cưỡi trâu để đi lại

4. Cuộc đời và sự nghiệp

– Trong Xuân Thu Nguyên mệnh bao có ghi:

“Thần Nông sinh tam thần nhi năng ngôn, ngũ nhật nhi năng hành, thất triêu nhi xỉ cụ, tam tuế nhi tri giá sắc bàn hí chi sự” (Thần Nông sinh ra được 3 ngày thì biết nói, 5 ngày thì biết đi, 7 ngày răng mọc đủ, 3 tuổi biết được những mùa màng vui chơi).

– Theo Tư Mã Thiên bổ sung vào phần Tam hoàng bản kỷ cho Sử ký, cho rằng Thần Nông vừa là thủ lĩnh và là người họ Khương (姜) và liệt kê một danh sách những người kế vị ông.

– Có lần bị Xi Vưu xâm chiếm, Viêm Đế đem quân đánh nhưng thất bại, đành chạy đến Trác Lộc xin Hoàng Đế giúp đỡ

– Trong Kinh Dịch, ông được nhắc tới như là người trị vì nối tiếp sau sự kết thúc của nhà Bào Hy/Phục Hy. Là người phát minh ra cày gỗ với lưỡi cong cũng bằng gỗ, truyền kỹ năng canh tác cho dân chúng và lập chợ ban ngày.

– Dẫn chiếu trong Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), đề cập tới một số vụ bạo loạn khi Thần Nông nổi lên và cho biết quyền lực của Thần Nông thị kéo dài tới 17 thế hệ.

– Dịch Lịch Sử và Chu Thư chép rằng, sau khi trời ban hạt giống xuống trần gian, Thần Nông bắt đầu chế tạo ra cái cày, dạy dân trồng lương thực và khai sáng văn minh nông nghiệp.

– Thập Dị Ký kể rằng, có một chú chim khổng tước màu đỏ bay tới cạnh Viêm Đế, miệng ngậm chín bông lúa giống. Viêm Đế mang những cây giống này trồng xuống ruộng, ăn vào không những có thể no bụng mà còn có thể trường sinh bất tử.

– Theo truyền thuyết, Thần Nông là người đã dạy dân nghề làm ruộng, trồng ngũ cốc, chế ra cày bừa bằng gỗ, ông tổ nghề gốm sứ, nghề y dược và là người đầu tiên làm lễ Tịch điền hoặc Hạ điền, cũng như phát triển nghề làm thuốc trị bệnh. Nên trong dân gian có câu: Thần Nông thường bách thảo, giáo nhân y liệu dữ nông canh (神農嘗百草, 教人醫療與農耕. Tạm dịch: Thần Nông nếm trăm cây thuốc, dạy dân trồng ngũ cốc).

– Cũng trong truyền thuyết kể rằng, vào thời đại Thần Nông thị số nhân khẩu tương đối nhiều. Con người nếu chỉ dựa vào săn bắt thú thì không đủ sống. Trời mới sáng tinh mơ thợ săn đã mang theo cung nỏ và gậy gộc đi bắt thú, tìm dã thú trên những cánh đồng cỏ mênh mông và trong những khu rừng rậm rạp. Họ phải chạy suốt ngày mà vẫn chẳng thu nạp được gì, chịu đói bụng, lê đôi chân mệt mỏi trở về. Thỉnh thoảng săn được một con lợn rừng, toàn bộ hơn một trăm nhân khẩu trong thị tộc xúm quanh lại phân phối, mỗi người chỉ được chia một phần thịt nhỏ, không đủ ấm bụng. Trẻ con đói quá, kêu khóc oa oa, phụ nữ và người già càng thêm tâm phiền ý loạn. Những tay săn thú vì bản thân không nuôi nổi thị tộc, đầu cứ cúi gục, mặt mày ủ rũ, ngồi thẫn thờ trên đất. Họ sống trong tình trạng cực kỳ buồn khổ. Chính trong tình huống đó, Thần Nông thị vĩ đại xuất hiện.

Ông đã phát hiện những hạt dưa và hoa quả do con người vứt xuống đất năm sau có thể mọc mầm, bén rễ, lớn lên thành dưa và cây quả mới. Ông còn phát hiện ra sự sinh trưởng của thực vật có quan hệ với thời tiết. Khi thời tiết ấm áp, cây cối nảy cành, sinh lá, khai hoa kết quả; khi thời tiết giá lạnh, cây cối khô héo. Ông quyết định lộ dụng sự thay đổi của thời tiết, nghĩ cách dùng sức người chăm bón cây cối, nhờ vậy mà đã có những thu hoạch hạt cây, trái quả một cách khả quan, đã có thêm thức ăn dự trữ, bổ sung bên cạnh săn bắn.

– Trong quãng đời ông được nhắc đến nhiều nhất là nếm các loại thảo dược, minh chứng cho đóng góp đó với cuốn sách được coi là của Thần Nông, mang tên Thần Nông bản thảo kinh (phồn thể: 神農本草經, giản thể: 神农本草经, bính âm: Shénnóng běncǎo jīng), được biên tập và chỉnh lý lần đầu tiên vào cuối đời Tây Hán, vài ngàn năm sau khi Thần Nông tồn tại. Ông được tôn kính là Ông tổ của y học Trung Hoa và cũng được coi là người đề ra kỹ thuật châm cứu.

– Theo sách cổ hơn là Hoài Nam tử có viết:

“Cổ giả, dân thứ thảo ẩm thủy, thái thọ mộc chi thực, thực doanh bàng chi nhục, thời đa tật bệnh độc thương chi hại. Ư thị Thần Nông thị nãi thủy giáo dân chủng ngũ cốc, tương thổ địa chi nghi, táo thấp phì nghiêu cao hạ, thường bách thảo chi tư vị, thủy tuyền chi cam khổ, linh dân chi sở tịch tựu. Đương thử chi thời, nhất nhật nhi ngộ thất thập độc” (Thời kỳ viễn cổ, nhân dân ăn cỏ uống nước, hái quả trên cây, ăn thịt sống, thường bị chất độc và bệnh tật thương tổn. Vì vậy họ Thần Nông bắt đầu dạy dân gieo trồng ngũ cốc, xem xét đất đai khô ráo hay ẩm thấp, màu mỡ hay gầy xấu, cao thấp trên dưới, để quyết định trồng nông sản gì; đích thân ông nếm mùi vị hàng trăm loại cây cỏ, nếm vị ngọt hay đắng của nước suối, giúp dân biết cái gì nên tránh (không ăn), cái gì có thể dùng được. Lúc này, mỗi ngày họ Thần Nông phải nếm bảy mươi hai cỏ độc).

– Trong Hắc Ám truyền, cuốn sử thi lâu đười nhất còn sót lại của dân tộc Hán có ghi chép rằng:

Vào thời điểm đó ôn dịch hoành hành ở nhân gian, nhà nhà thôn thôn đều có thi thể chất đống. Thần Nông nếm trăm loại thảo dược, hao tâm tổn sức lên núi, xuống biển”

Có lần vì nếm một loại thảo dược mà ông bị trúng độc, đau đớn rất khó chịu, ông bèn lập tức uống thuốc giải để khử độc. Cứ kiên trì như vậy nhiều lần, ông đã phân biệt ra bảy mươi hai lộ độc thần, tìm ra Hoàn Dương Thảo cứu sống bách tính.

– Sưu Thần Ký ghi chép, Viêm Đế có một chiếc roi thần màu đỏ thẫm, quất vào thảo dược sẽ phân biệt được độc tính cũng như dược tính hàn ôn của nó.

– Truyền thuyết kể: Thoạt đầu, Thần Nông thị chưa hiểu được loại quả, hạt hoặc rễ, cành lá của cây nào có thể ăn được, loại nào ăn ngon, loại nào không nên ăn hoặc ăn không ngon. Để mọi người được ăn no, không bị đói, để cho mọi người được sinh tồn, Thần Nông thị quyết định dùng chính miệng của mình để thử mùi vị của các thực vật hoang dại.

Ông đã thu thập các loại quả, hạt, rễ, lá, cành và ghé miệng thử từng loại. Mùi vị của thứ nào ngon, đặc biệt ngon, ông đánh dấu lại. Mùi vị của thứ nào vừa đắng vừa chát, khó có thể nuốt được, ông cũng đánh dấu lại.

Có một số thứ mùi vị không đến nỗi kém, nhưng sau khi nếm thử thì thấy nếu không váng đầu đau óc, cũng đau bụng nhức tim, thậm chí còn thượng thổ, hạ tả, miệng nôn, trôn tháo. Thì ra những thứ này có chứa chất độc, ông cũng đánh dấu tỉ mỉ kỹ càng.

Trong quá trình nếm thử bách thảo, lúc nhiều nhất trong một ngày đã từng gặp phải đã từng gặp phải bảy mươi loại thực vật có chất độc, trong đó mấy lần súyt mất mạng. Thế nhưng cuối cùng Thần Nông thị vĩ đại đã khắc phục được muôn vàn khó khăn, đã chiến thắng được mọi loại nguy hiểm, tìm ra được một khối lượng lớn thức ăn cho loài người.

Ông đã tìm được những thực vật có thể làm ra lương thực, những loài cây có thể làm rau ăn, đã tìm được những trái cây ngon, còn tìm được cả những cây có thể chữa bệnh được.

– Ngày nay trên gò Thần Phẫu ở xã Thái Nguyên, huyện Sơn Tây, Trung Quốc có nồi nếm thuốc của Thần Nông; trên núi Thành Dương có dấu tích roi thần. Ở phía tây bắc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc có giá Thần Nông.

– Khi đã nhận biết được những loại cây này, con người bèn vạch ra kế hoạch trồng trọt, và như vậy vấn đề thức ăn đã được giải quyết một bước, vấn đề thuốc chữa bệnh cũng đã bước đầu được khắc phục. Những người săn thú, bắt cá đã gặp vận may, từ đó trở đi sự nghiệp trồng trọt đã được mở ra, đời sống con người đã có bảo đảm.

Thần Nông thị vẫn chưa thoả mãn, ông phát hiện thấy sự sinh trưởng của thực vật chẳng những có quan hệ đến thời tiết mà còn có quan hệ tới đất đai. Có một số thực vật thích sinh trưởng ở vùng đất vàng, một số thực vật thích sinh trưởng nơi đất đen; một số thực vật ưa đất khô ráo, có một số thực vật hợp với đất ẩm. Tất cả các hiện tượng quan sát đều được ông ghi nhớ, rồi chỉ đạo mọi người theo đuổi việc trồng trọt sao cho ngày một tốt hơn.

Thần Nông thị lại phát hiện, việc trồng trọt cũng giống như việc săn bắt, đòi hỏi phải có một loại công cụ chuyên dùng. Tức thì ông mò mẫm nhiều lần rồi chế tạo ra các công cụ như cày, bừa, liềm, hái… dùng để trồng trọt và gặt hái.

Tới đây, nền sản xuất nông nghiệp nguyên thủy được kể là một hệ thống phương pháp tương đối hoàn chỉnh. Con người đã bắt đầu sản xuất nông nghiệp, chẳng những đời sống có đảm bảo; sản phẩm dư thừa, mà quan hệ mua bán cũng đã xuất hiện, chợ búa, mậu dịch sơ khai ra đời.

Mọi người đem những thức vật dư thừa của thị tộc đem ra chợ trao đổi với thị tộc khác lấy những thứ mà mình không có. Biện pháp là “họp chợ giữa ban ngày”, tới đúng giữa trưa, mặt trời ở giữa không trung, tất cả mọi người đều ra họp chợ, tiến hành trao đổi.

– Ông chia giới tuyến đường đi ở bản Tuyến (nay là phía đông nam huyện Trắc Lộc, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) nảy sinh xung đột lớn với Hoàng Đế. Đánh nhau bị thua trận, bắt tay hoà bình.

Sau đó dẫn đầu trong việc mở rộng dân cư xuống hạ lưu sông Hoàng Hà Mễ Đới, cùng Hoàng Đế liên minh bộ lạc lại với nhau tạo thành một bộ phận chính yếu của bộ tộc Hoa Hạ. Bộ tộc Hoa Hạ về sau lại phát triển thành dân tộc Hán. Vì vậy con cháu của dân tộc Hán về sau này được gọi là “Con cháu của Mễ Đới”.

– Người ta cho rằng, ông đã cùng Phục Hy và Thần Nông tạo ra cổ cầm

– Thần Nông Viêm Đế đặt kinh đô tại đất Trần, sau dời tới Khúc Phụ.

– Cùng với Hoàng Đế là bạn và đồng học giả, chia sẻ những bí quyết giả kim thuật dùng trong y dược, khả năng bất tử và chế tạo vàng.

– Để phục vụ cho nghề y dược, ông đã nếm rất nhiều loại độc thảo khác nhau.

– Năm 3080 TCN, ông chết do nếm phải một loại độc thảo mà không kịp lấy thuốc chữa

– Theo Tư Mã Trinh thì Viêm Đế Thần Nông làm vua 140 năm, hậu duệ truyền được 8 đời, kéo dài 520 năm cho đến khi Hiên Viên Hoàng Đế nổi lên. An táng tại xã Trà Lăng, huyện Trường Sa (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc)

5. Tác phẩm và công trình tiêu biểu

– Sách Thần Nông bản thảo kinh (phồn thể: 神農本草經, giản thể: 神农本草经, bính âm: Shénnóng běncǎo jīng).

6. Giải thưởng và tôn vinh

– Lễ Thần Nông tức là Lễ tế vua Thần Nông Viêm Đế để cầu mong được mùa và nghề nông phát đạt, cử hành vào ngày Lập xuân hàng năm, bởi vậy nên lễ tế Thần Nông còn được gọi là Tế xuân.

– Nơi duy nhất của Việt Nam cũng như cả khu vực Đông Nam Á có đền thờ Thần Nông là xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam.

– Dân gian đặt tên cho chòm sao Thiên Hạt.

7. Tham khảo

a) Internet

Wikipedia

– Sách

Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô Sỹ Liên

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *