Khương Thạch Niên (3220 TCN – 3080 TCN)

Chân dung Khương Thạch Niên

1. Thông tin

– Tên huý: Khương Thạch Niên (姜石年)

Tên gọi: Viêm Đế ((姜炎帝) hay Xích Đế (赤帝).

Đều có nghĩa là Vua xứ nóng.

Tước hiệu: Hoả Đức vương (火德王)

Hiệu: Thần Nông (神農 | 神农), Thần Nông thị (神農氏), Liên Sơn thị (連山氏), Tắc thần (稷神).

Tự xưng: Dược vương (藥王), Ngũ Cốc vương (五穀王), Ngũ Cốc Tiên Đế (五穀先帝), Thần Nông đại đế (神農大帝)

– Sinh năm 3220 TCN tại núi Dương Đầu (nay là tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc).
Mất năm 3080 TCN tại (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc).

Là nhân vật huyền thoại trong lịch sử Trung Hoa và Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Dòng họ Khương

– BốThiếu ĐiểnmẹNữ Đăng

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là Mãng Thuỷ Thính Bạt

– Có ? người con:

Con trai: Đế Lâm Khôi, Phục Hy

Con gái: Khương Nữ Oa

c) Hậu duệ

Cháu nội: Đế Thừa

3. Con người và tính cách

Truyền thuyết dân gian kể rằng: ban đầu ông có thân hình trong suốt nên ông có thể nhìn thấy tác động của các loại cây cỏ khác nhau lên cơ thể mình.

Sách Chinese Mythology. Feltham: Hamlyn Publishing – Christie Anthony viết: Thần Nông cũng là người, có đầu giống đầu bò, sừng nhọn, trán đồng, đầu sắt, đuôi bọ cạp, chân rết.

Thường được biết với hình tượng cưỡi trâu để đi lại

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con một trong gia đình

Truyền thuyết kể rằng, vào thời đại Thần Nông thị số nhân khẩu tương đối nhiều. Con người nếu chỉ dựa vào săn bắt thú thì không đủ sống. Trời mới sáng tinh mơ thợ săn đã mang theo cung nỏ và gậy gộc đi bắt thú, tìm dã thú trên những cánh đồng cỏ mênh mông và trong những khu rừng rậm rạp. Họ phải chạy suốt ngày mà vẫn chẳng thu nạp được gì, chịu đói bụng, lê đôi chân mệt mỏi trở về. Thỉnh thoảng săn được một con lợn rừng, toàn bộ hơn một trăm nhân khẩu trong thị tộc xúm quanh lại phân phối, mỗi người chỉ được chia một phần thịt nhỏ, không đủ ấm bụng. Trẻ con đói quá, kêu khóc oa oa, phụ nữ và người già càng thêm tâm phiền ý loạn. Những tay săn thú vì bản thân không nuôi nổi thị tộc, đầu cứ cúi gục, mặt mày ủ rũ, ngồi thẫn thờ trên đất. Họ sống trong tình trạng cực kỳ buồn khổ. Chính trong tình huống đó, Thần Nông thị vĩ đại xuất hiện.

Tương truyền: Khi sinh ra, trên Trái đất xuất hiện chín cái giếng, nước giữa các giếng tương thông với nhau, nếu múc nước ở một giếng thì tám giếng còn lại sẽ xuất hiện gợn sóng.

Sách Xuân Thu Nguyên mệnh bao, ghi: “Thần Nông sinh tam thần nhi năng ngôn, ngũ nhật nhi năng hành, thất triêu nhi xỉ cụ, tam tuế nhi tri giá sắc bàn hí chi sự” (Thần Nông sinh ra được 3 ngày thì biết nói, 5 ngày thì biết đi, 7 ngày răng mọc đủ, 3 tuổi biết được những mùa màng vui chơi).

Làm thủ lĩnh bộ lạc vùng Khương Thuỷ (tây bắc Trung Quốc ngày nay) đặt kinh đô tại đất Trần, sau dời tới Khúc Phụ. Chuyên tâm trong các hoạt động giúp dân về các nghề nông nghiệp, nghề y học, săn bắt,

Cùng Phục Hy chế tạo ra cổ cầm

Bị Xi Vưu đem quân xâm chiếm, đem quân đi đánh nhưng thất bại, đành chạy đến Trác Lộc xin Hoàng Đế giúp đỡ và được hỗ trợ.

Bộ lạc của Hoàng Đế lại nảy ra xung đột, hai bên đánh nhau một trận ở Phản Tuyền, nhưng thất bại.

Phát hiện những hạt dưa và hoa quả do con người vứt xuống đất năm sau có thể mọc mầm, bén rễ, lớn lên thành dưa và cây quả mới. Đồng thời, phát hiện ra sự sinh trưởng của thực vật có quan hệ với thời tiết. Khi thời tiết ấm áp, cây cối nảy cành, sinh lá, khai hoa kết quả; khi thời tiết giá lạnh, cây cối khô héo. Bèn quyết định lộ dụng sự thay đổi của thời tiết, nghĩ cách dùng sức người chăm bón cây cối, nhờ vậy mà đã có những thu hoạch hạt cây, trái quả một cách khả quan, đã có thêm thức ăn dự trữ, bổ sung bên cạnh săn bắn.

Chim khổng tước theo lệnh trời đem chín bông lúa giống đến cho. Liền chế tạo cày gỗ với lưỡi cong cũng bằng gỗ để làm đất trồng lúa. Khi lúa được thu hoạch, ăn thấy tốt bèn truyền kỹ năng canh tác cho dân chúng và lập chợ ban ngày.Rồi chế tạo ra các công cụ như bừa, liềm, hái… dùng để trồng trọt và gặt hái.

Sách Dịch lịch sử và Chu thư chép rằng: Sau khi trời ban hạt giống xuống trần gian, Thần Nông bắt đầu chế tạo ra cái cày, dạy dân trồng lương thực và khai sáng văn minh nông nghiệp.

Sách Thập dị ký kể rằng: Có một chú chim khổng tước màu đỏ bay tới cạnh Viêm Đế, miệng ngậm chín bông lúa giống. Viêm Đế mang những cây giống này trồng xuống ruộng, ăn vào không những có thể no bụng mà còn có thể trường sinh bất tử.

Dạy dân nghề gốm sứ, nghề y dược và làm lễ Tịch điền hoặc Hạ điền, cũng như phát triển nghề làm thuốc trị bệnh.

Dân gian có câu: Thần Nông thường bách thảo, giáo nhân y liệu dữ nông canh (神農嘗百草, 教人醫療與農耕. Tạm dịch: Thần Nông nếm trăm cây thuốc, dạy dân trồng ngũ cốc).

Sách Hắc Ám truyền, ghi: “Vào thời điểm đó ôn dịch hoành hành ở nhân gian, nhà nhà thôn thôn đều có thi thể chất đống. Thần Nông nếm trăm loại thảo dược, hao tâm tổn sức lên núi, xuống biển”

Thoạt đầu, chưa hiểu được loại quả, hạt hoặc rễ, cành lá của cây nào có thể ăn được, loại nào ăn ngon, loại nào không nên ăn hoặc ăn không ngon. Nên quyết định dùng chính miệng của mình để thử mùi vị của các thực vật hoang dại. Thu thập các loại quả, hạt, rễ, lá, cành và ghé miệng thử từng loại. Mùi vị của thứ nào ngon, đặc biệt ngon; mùi vị của thứ nào vừa đắng vừa chát, khó có thể nuốt được, tất cả đánh dấu vào một cuốn sổ.

Có một số thứ mùi vị không đến nỗi kém, nhưng sau khi nếm thử thì thấy nếu không váng đầu đau óc, cũng đau bụng nhức tim, thậm chí còn thượng thổ, hạ tả, miệng nôn, trôn tháo. Thì ra những thứ này có chứa chất độc, cũng đánh dấu tỉ mỉ kỹ càng.

Trong quá trình nếm thử bách thảo, lúc nhiều nhất trong một ngày đã từng gặp phải 72 loại thực vật có chất độc, trong đó mấy lần suýt mất mạng. Thế nhưng cuối cùng cũng khắc phục được nguy hiểm, tìm ra được một khối lượng lớn thức ăn cho loài người.

Cuốn sổ ghi chép đặt tên là Thần Nông bản thảo kinh

Sách Hoài Nam tử – Lưu An viết: “Cổ giả, dân thứ thảo ẩm thủy, thái thọ mộc chi thực, thực doanh bàng chi nhục, thời đa tật bệnh độc thương chi hại. Ư thị Thần Nông thị nãi thủy giáo dân chủng ngũ cốc, tương thổ địa chi nghi, táo thấp phì nghiêu cao hạ, thường bách thảo chi tư vị, thủy tuyền chi cam khổ, linh dân chi sở tịch tựu. Đương thử chi thời, nhất nhật nhi ngộ thất thập độc” (Thời kỳ viễn cổ, nhân dân ăn cỏ uống nước, hái quả trên cây, ăn thịt sống, thường bị chất độc và bệnh tật thương tổn. Vì vậy họ Thần Nông bắt đầu dạy dân gieo trồng ngũ cốc, xem xét đất đai khô ráo hay ẩm thấp, màu mỡ hay gầy xấu, cao thấp trên dưới, để quyết định trồng nông sản gì; đích thân ông nếm mùi vị hàng trăm loại cây cỏ, nếm vị ngọt hay đắng của nước suối, giúp dân biết cái gì nên tránh (không ăn), cái gì có thể dùng được. Lúc này, mỗi ngày họ Thần Nông phải nếm bảy mươi hai cỏ độc).

Một lần nếm một loại thảo dược mà trúng độc, đau đớn khó chịu, bèn lập tức uống thuốc giải để khử độc. Cứ kiên trì như vậy nhiều lần, và phân biệt ra 72 lộ độc thần, tìm ra Hoàn dương thảo cứu sống bách tính. Tìm được những thực vật có thể làm ra lương thực, những loài cây có thể làm rau ăn, tìm được những trái cây ngon, còn tìm được cả những cây có thể chữa bệnh được.

Có một chiếc roi thần màu đỏ thẫm, quất vào thảo dược sẽ phân biệt được độc tính cũng như dược tính hàn ôn của nó.

Chưa thoả mãn với những gì tìm được, qua tìm tòi thêm và phát hiện thấy sự sinh trưởng của thực vật chẳng những có quan hệ đến thời tiết mà còn có quan hệ tới đất đai. Có một số thực vật thích sinh trưởng ở vùng đất vàng, một số thực vật thích sinh trưởng nơi đất đen; một số thực vật ưa đất khô ráo, có một số thực vật hợp với đất ẩm. Tất cả các hiện tượng quan sát đều được đều ghi nhớ, rồi chỉ đạo mọi người theo đuổi việc trồng trọt sao cho ngày một tốt hơn.

Tới đây, nền sản xuất nông nghiệp nguyên thủy được kể là một hệ thống phương pháp tương đối hoàn chỉnh. Con người đã bắt đầu sản xuất nông nghiệp, chẳng những đời sống có đảm bảo; sản phẩm dư thừa, mà quan hệ mua bán cũng đã xuất hiện, chợ búa, mậu dịch sơ khai ra đời.

Mọi người đem những thức vật dư thừa của thị tộc đem ra chợ trao đổi với thị tộc khác lấy những thứ mà mình không có. Biện pháp là “họp chợ giữa ban ngày”, tới đúng giữa trưa, mặt trời ở giữa không trung, tất cả mọi người đều ra họp chợ, tiến hành trao đổi.

Chia giới tuyến đường đi ở bản Tuyến (nay là phía đông nam huyện Trắc Lộc, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) nảy sinh xung đột lớn với Hoàng Đế. Đánh nhau bị thua trận, bắt tay hoà bình.

Truyền ngôi cho con trai là đế Lâm Khôi

Năm 3080 TCN, nếm phải một loại độc thảo, không kịp lấy thuốc chữa nên đứt ruột qua đời.

5. Tác phẩm và công trình tiêu biểu

– Sách Thần Nông bản thảo kinh

6. Giải thưởng và tôn vinh

a) Được coi là thuỷ tổ, ông tổ:

– Trung Quốc:

Mộ táng tại xã Trà Lăng, huyện Trường Sa (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc).

Miếu thờ tại Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.

Được coi là ông tổ của người Trung Quốc

Người Hán coi là tổ tiên của mình, với thành ngữ Viêm Hoàng tử tôn (nghĩa là con cháu của Viêm Đế và Hoàng Đế) hay Con cháu của Mễ Đới

Thủ lĩnh của Xi Vưu

Anh hùng văn hoá của Trung Hoa

Được xem là ông tổ của nền y học Trung Hoa và người phát minh ra thuật châm cứu

– Việt Nam:

Coi là vị thần cai quản đất phương Nam (tức vùng Bách Việt).

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư, phần Lời tựa – Ngô Sĩ Liên chép: Nước Đại Việt ở phía nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã phân chia giới hạn Nam – Bắc. Thủy tổ của ta là dòng dõi họ Thần Nông, thế là trời sinh chân chúa, có thể cùng với Bắc triều mỗi bên làm đế một phương.

Cũng trong Toàn thư: Vua Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa), gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục.

Sách Lĩnh Nam Chích Quái, mục Truyện Hồng Bàng thị, ghi: Cháu ba đời Viêm Đế họ Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi nam tuần đến Ngũ Lĩnh, gặp con gái Vụ Tiên đem lòng yêu mến mới cưới đem vê, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan, thông minh túc thành.

Đền thờ Thần Nông tại xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam.

b) Khác

– Được coi là ông tổ của ngành nông nghiệp. Người đầu tiên làm lễ Tịch điền hoặc Hạ điền

– Lễ Thần Nông tổ chức vào ngày Lập xuân hàng năm.

– Dân gian đặt tên cho chòm sao Thiên Hạt.

c) Di chỉ

– Trung Quốc:

Gò Thần Phẫu ở xã Thái Nguyên, huyện Sơn Tây, Trung Quốc có nồi nếm thuốc của Thần Nông

Núi Thành Dương có dấu tích roi thần.

Phía tây bắc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc có giá Thần Nông.

– Việt Nam

Phát hiện khu di tích, mộ của Liệt Tổ và gia quyến tại huyện Chương Mỹ, Tp. Hà Nội, Việt Nam

Chùa Trầm, huyện Chương Mỹ có tượng thờ Đế Thần (tức vua Thần Nông).

Chùa Cực Lạc có điện thờ Thần Nông.

7. Tham khảo

a) Internet

wikipedia.org

b) Ấn phẩm

Chinese Mythology. Feltham: Hamlyn Publishing của Christie Anthony

Xuân Thu Nguyên mệnh bao

Kinh dịch

Lã thị Xuân Thu (呂氏春秋) của Lữ Bất Vi

Dịch lịch sử

Chu thư

Thập dị ký

Hoài Nam tử của Lưu An

Sưu thần ký của Can Bảo

Xuân Thu mệnh lịch tự (春秋命歷序) của Khuyết danh (Hán)

Đế vương thế kỷ của Hoàng Phủ Mật

Tam Ngũ lịch ký của Từ Chỉnh

Sử ký tác ẩn của Tư Mã Trinh

Thông giám tục biên

Sử toản thông yếu

Độc thư kỉ sổ lược

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published.