1. Thông tin

– Tên gọi: Ngô Chi Lan (吳芝蘭) hay Nguyễn Hạ Huệ (夏慧)

Cải theo họ Nguyễn Trãi

Tục danh: Ngô Thị Hĩm

Biểu tự: Quỳnh Hương (瓊香)

Tên thường gọi: Kim Hoa nữ học sĩ (金華女學士) hay Phù Gia nữ học sĩ (苻家女學士)

Tước hiệu: Nữ Học sĩ (女學士)

– Sinh năm 1434 tại làng Phù Lỗ, xã An Lạc, huyện Kim Hoa, xứ Phúc Yên, trấn Kinh Bắc, Đại Việt (nay là xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Tp. Hà Nội, Việt Nam)

Mất năm 1497 (63 tuổi) tại Phù Gia trang, Phù Lỗ, Đại Việt (nay là huyện Sóc Sơn, Việt Nam)

Theo Truyền kỳ mạn lục của tác giả Nguyễn Dữ có đoạn ghi: năm ngoài 40 tuổi nàng mất. Nên vẫn chưa khẳng định được thông tin năm sinh và năm mất là đúng.

– Giới tính: Nữ

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

– Là người dân thời nhà Lê trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNgô Từbà nộiĐinh Thị Ngọc Kế

– Bố Ngô KhếmẹVũ Thị Ngọc Hoàn

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với chồng là Phù Thúc Hoành

3. Con người và tính cách

Wikipedia.org viết: Bà nổi tiếng đẹp người, đẹp nết, giỏi thi ca, thông hiểu âm nhạc và viết chữ đẹp. […] Có biệt tài sáng tác rất nhanh, nên khi xuất khẩu, lúc phóng bút, ít khi bà phải sửa chữa, dù chỉ là một chữ. […] Thơ của Ngô Chi Lan mang bản sắc riêng, không khuôn sáo, gò ép, đẹp cả ý và lời, thường kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cảnh vật với những chi tiết chân thực của đời sống và có cái nhìn nhân ái trước cuộc đời và con người. Nửa sau thế kỉ XV, Ngô Chi Lan là một tài thơ được người đương thời đánh giá cao. Có thể coi bà là nhà thơ nữ đầu tiên có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam.

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con thứ ? trong gia đình 14 anh em (Ngô Bá Di, Ngô Sử Hậu, Ngô Thế Bang, Ngô Công Tín, Ngô Ngữ, Ngô Sử Toàn, Ngô Chi Lan, Ngô Khắc Cung, Ngô Văn Bính, Ngô Lợi, Ngô Thế Thái, Ngô Ngọc Phác, ? và ?)

Thế kỷ XV, Triều Lê

Năm 1436 khi 2 tuổi, theo hầu cô là Ngô Thị Ngọc Dao được tuyển vào cung Khánh Phương làm Tiệp dư.

Khi người cô mang thai thì nội cung có xảy ra chuyện lục đục, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đưa Ngọc Dao đi trốn, đồng thời đưa Ngô Chi Lan về ở trong nhà, nhận làm con nuôi, cải tên họ là Nguyễn Hạ Huệ

Năm 1442 khi 8 tuổi, vụ án Lệ Chi Viên đã khiến Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ nhận án tử hình. Ngô Chi Lan liền cải dạng, đổi lại tên thật, đến ở làm con nuôi cho một gia đình ở huyện Kim Hoa và trốn đi ở nhiều nơi.

Năm 1459 khi 15 tuổi, Lê Thánh Tông lên ngôi, tẩy oan cho Nguyễn Trãi, Ngô Chi Lan trở về. Được Quang Thục Hoàng thái hậu yêu chiều và vua Lê Thánh Tông mến mộ vì sự am hiểu và thông minh nên ban cho hiệu Kim Hoa nữ học sĩ, cho dự nhiều cuộc thi xướng họa thơ văn, đồng thời cho đảm đương việc dạy lễ nghi và văn chương cho các cung nhân.

Mỗi khi vua Lê Thánh Tông có buổi đi du ngoạn hoặc dự yến tiệc ở đâu, bà thường mang theo nghiên bút theo chầu hầu.

Có lần cùng vua đi dạo, dừng chân thưởng ngoạn tại Thanh Dương Môn, chợt thấy làn mây biếc là đà trên mái điện bèn sai quan thị tùng họ Nguyễn làm từ vịnh cảnh. Bản Từ khúc uyên ương dâng lên, vua không vừa ý, bèn truyền cho Ngô Chi Lan làm bài khác. Bà vâng lệnh và thảo ngay một chương, trong đó có câu kết rằng: Điện ngọc ngói mời mây biếc phủ/ Cẩm Giang sóng lụa sắc hồng dâng. Nghe xong vua lấy làm đắc ý, khen tài văn hay chữ tốt và ban hiệu Phù gia nữ học sĩ, thưởng cho 5 đĩnh huỳnh kim.

Một buổi tối, được Ngô Thái hậu cho theo tháp tùng du ngoạn trên núi Vệ Linh. Bà dâng dâng cảm xúc trước sự tích Thánh Gióng, bèn cảm tác nên bài tứ tuyệt Đề Vệ Linh sơn, tạm dịch: Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn/ Muôn tía nghìn hồng đẹp thế gian/ Ngựa sắt lên trời tên rạng sử/ Anh hùng mãi mãi với giang san. Bài thơ nhanh chóng lan truyền trong cung và ra cả ngoài phố thị, ai cũng ca ngợi và xếp vào hạng tuyệt tác. Vua ngỏ lời khen và ban tặng 1 cặp áo gấm màu lục, ngoài có phủ áo sa mỏng màu thiên thanh. Bài thơ được lưu giữ tại đền Sóc.

Cùng chồng kết giao với nhiều bạn thơ ở chốn kinh kỳ và thường tổ chức những buổi gặp gỡ bình luận văn chương. Điều đó khiến danh tiếng của Ngô Chi Lan vang xa nhưng cũng khiến cho dân gian mỉa mai so sánh về thân phận hai vợ chồng. Có câu thơ mỉa mai rằng: Ông tơ lắm nỗi đa đoan/ Xe tơ lại khéo vơ quàng vơ xiên

Bà không lấy đó làm điều bận tâm, ngày ngày đóng cửa dạy chồng học, khuyên chồng cố gắng để mọi người thấy. Kết quả giúp chồng có cơ hội được cử làm Giáo thụ và Đông các Đại học sĩ.

Ngoài ra, việc Ngô Chi Lan có mối quan hệ tri kỷ thân thiết với vua cũng khiến một số kẻ tiểu nhân làm thơ châm biếm, đặt điều: Quân vương ví phỏng cần tiêu muộn/ Hãy gọi Kim Hoa học sĩ vào. Hoặc Tan tiệc lầu rồng thơ mệt tứ/ Sáu canh chầu chực giấc nồng trưa. Hay câu Lầu rồng, thơ cạn, tiệc tàn/ Năm canh bảnh mắt còn khan giấc nồng.

Khi ấy bà mượn giấc mộng để thổ lộ tâm tư với mọi người: Bấy nay tôi hầu chầu Thuận đế, thi phụng tôn vương. Nghĩa cả là vua tôi, song vẫn còn tình thâm đồng tộc, lại vốn Ngô gia phép tắc; Phù gia trong đạo. Thế mà lẽ nào trong giới thi văn lại có hạng đơn bạc, đặt giọng quàng xiên, tệ hại cho đành?.

Trong giới Tao đàn Nhị thập bát tú đều thông cảm cho nỗi phiền muộn và ấm ức của Ngô Chi Lan. Tiến sĩ Thái Thuận lên tiếng khuyên giải, đại ý: …Nào phải một mình phu nhân mới bị khốn vì ngòi bút trào lộng của những kẻ xú ác…, mà các bậc trinh liệt xưa nay đã thường bị những lời khinh bạc trây bẩn, song nước Ngân Hà dễ gì khuấy cho nhơ, nên nữ học sĩ cũng chẳng cần bận tâm làm gì.

Chuyện cũng đến tai Phù Thúc Hoành, thấy Ngô Chi Lan thường bận việc trong cung lâu không về, tuy không tin những gì người ta nói nhưng cũng có chút ghen tuông, ông gửi thơ cho vợ với tiêu đề Ý xưa, tạm dịch: Lá sen xanh như chiếc tán/ Hoa sen hồng tựa má đào/ Nhớ người mà chưa được gặp/ Ngẩn ngơ thơ thẩn bên ao. Ngô Chi Lan phản hồi 4 bài tứ Xuân, Hạ, Thu, Đông. Trong đó bài thơ Hạ có nội dung: Gió rụng hoa lựu tơi bời/ Trên thu tha thướt dáng người giai nhân/ Oanh vàng ủ rũ thương xuân/ Én đôi tiếc cảnh tần ngần trên cây/ Đừng làm rủ thấp đôi mày/ Nương song hồn mộng xxa bay cuối trời/ Cuối rèm ai cứ gọi hoài/ Để hồn em chẳng được bay tới chàng.

Năm 1497 (Đinh Tỵ) vua Lê Thánh Tông băng hà, nhân ngày lễ đại hành bà đã khóc điếu bằng bài thơ Đường luật. Ngô Chi Lan về nghỉ và qua đời ở Phù Gia trang, Phù Lỗ.

5. Tác phẩm và công trình tiêu biểu

Tập thơ Mai trang tập

Chùm thơ vịnh 4 mùa (thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán)

Chùm thơ vịnh 4 mùa (thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Nôm)

Vịnh núi Vệ Linh

Hai bài thơ Thái liên khúc

Thơ vịnh truyện Vũ Tô

Thơ điếu vua Lê Thánh Tông

6. Giải thưởng và tôn vinh

Nhân dân làng Phù Lỗ dựng đền thờ đề tên Kim Hoa nữ học sĩ ngay trên nền nhà xưa bà ở (nay là thôn Đoài, xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Tp. Hà Nội, Việt Nam). Dân gian gọi là Miếu Nhà Bà, lấy ngày 17/9 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ

Tác giả Nguyễn Dữ viết 1 câu chuyện về bà trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, tựa đề Kim Hoa thi thoại.

Được mệnh danh là nữ thi sĩ đầu tiên của Việt Nam.

7. Tham khảo

– Internet

vi.wikipedia.org

ngotoc.vn

hanoimoi.com.vn

– Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (Đinh Dậu 1477, niên hiệu Hồng Đức Lê Thánh Tông)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *