1. Thông tin

– Tên gọi: Mạc Mậu Hợp (莫茂洽) hay Mạc Mục Tông

Pháp danh: Võ An

Niên hiệu: Thuần Phúc (淳福), Sùng Khang (崇康), Diên Thành (延成), Đoan Thái (端泰), Hưng Trị (興治), Hồng Ninh (洪寧).

Thụy hiệu: An Thiên Huy Địa Trang Văn Cẩn Vũ Bình Định Huệ Cương Hiếu Tĩnh Hoàng Đế (安天徽地庄文勤武平定惠疆孝静皇帝).

Miếu hiệu: Anh Tổ Mạc Mục Tông.

Theo các sử sách chính thống của Việt Nam, vì ông bị giết và sau khi ông chết, nhà Mạc cũng mất nên không được đặt miếu hiệu và thụy hiệu. Tuy nhiên, theo công trình nghiên cứu của GS TSKH Phan Đăng Nhật, miếu hiệu của Mạc Mậu Hợp là Mục Tông, thụy hiệu đầy đủ là Anh Tổ Tĩnh Hoàng đế (英祖靜皇帝). 

Còn theo học giả Trung Quốc Ngưu Quân Khải thì miếu hiệu của Mạc Mậu Hợp là Anh Tổ, thụy hiệu đầy đủ là An Thiên Huy Địa Trang Văn Cẩn Vũ Bình Định Huệ Cương Hiếu Tĩnh Hoàng Đế (安天徽地庄文勤武平定惠疆孝静皇帝)

– Sinh năm 1560 tại Đại Việt (nay là Việt Nam). Quê gốc tại xã Cao Đôi, huyện Bình Hà, Đại Việt (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Việt Nam)

Mất tháng 1/1593 (33 tuổi) tại bãi cát Bồ Đề, Đại Việt (nay là Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

– Là chính trị gia thời Lê Mạc trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Bố là Mạc Tuyên Tông và mẹ là Bùi Thị

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là Nguyễn Thị Như Nguyệt

– Có 2 người con trai: 1 và Mạc Toàn

3. Con người và tính cách

Đại Việt sử ký tục biên nhận xét: ngày càng buông tuồng du đãng, tửu sắc bừa bãi

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con cả trong gia đình có ? anh chị em (Mạc Mậu Hợp)

Năm 1562 khi 2 tuổi, cha là Mạc Tuyên Tông chết. Tháng 1 được Khiêm vương Mạc Kính Điển là phụ chính đưa lên ngôi, lấy niên hiệu là Thuần Phúc thứ nhất. Lúc này triều chính vẫn do hai ông chú là Mạc Kính Điển và Mạc Đôn Nhượng phụ tá.

Lợi dụng cái chết của Mạc Tuyên Tông, con nối ngôi còn thơ dại, còn Mạc Kính Điển, một đại thần trụ cột của triều Mạc đã cao tuổi, phía Lê – Trịnh Nam triều lại liên tiếp mở những cuộc tấn công vào các vùng Trường Yên, Yên Sơn Nam. Kính Điển lại phải thân chinh đốc binh mã chống Lê – Trịnh. Kính Điển tổ chức những trận đánh thọc sâu vào Thanh Hoa (tên cũ của Thanh Hóa) buộc Thái sư phụ chính của Nam triều là Trịnh Kiểm phải lui quân về giữ Tây Đô (Thanh Hóa). Trịnh Kiểm nhiều lần tấn công làm suy yếu binh lực.

Năm 1568 khoa thi chọn Vũ Hữu Chính thủ khoa

Năm 1570 khi 10 tuổi, Trịnh Kiểm chết, anh em Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh quyền. Thấy triều Lê Anh Tông lục đục, quan Bố Chính là Lập quận công Mạc Lập Bạo đem quân về đầu hàng Mạc Mậu Hợp. Mạc Kính Điển nhân thế đem hơn 10 vạn quân đánh thẳng vào Thanh Hoa, cuộc tấn công Lê – Trịnh lúc này của nhà Mạc kéo dài suốt cả năm nhưng vẫn chưa phân thắng bại. Trước thế tấn công quyết liệt của Mạc Kính Điển, bị kẹp giữa quân Mạc và quân Trịnh Tùng, Trịnh Cối không chống nổi, liền đem vợ con cùng nhiều tướng lĩnh khác của triều Lê Anh Tông chạy về với nhà Mạc. Trịnh Tùng cầm quân Nam triều cầm cự được với quân Mạc. Cuối năm Kính Điển vì thiếu lương lại rút quân về Đông Kinh.

Năm 1571 khi 11 tuổi, Mở khoa thi chọn thủ khoa Nguyễn Mẫn. Nam triều lúc bấy giờ chỉ giữ được mỗi Thanh Hóa, Kính Điển đem binh vào đánh Nghệ An nên phía nam sông Lam trở vào Quảng Nam đều thuộc nhà Mạc. Tuy nhiên, nhà Mạc sau đó đánh mất Thuận Hóa, Quảng Nam vì xa cách nên không thể cứu ứng, tướng Mạc Lập Bạo gặp phải địch thủ lớn là Nguyễn Hoàng bị thua trận chết. Mặc dù Nguyễn Quyện và Hoàng quận công Mạc Đăng Lượng đánh thắng quân Lê nhiều lần ở Nghệ An nhưng vì địa thế cách trở, xa Đông Kinh ở Bắc Bộ không tiếp ứng được nên cuối cùng quân chủ lực của Mạc lại phải rút đi, quân Mạc lại yếu thế trước quân Trịnh. Lê – Trịnh được yên phía nam nhờ sức của Nguyễn Hoàng. Nhà Mạc mất hẳn phía nam và chỉ còn kiểm soát Bắc Hà. Trong những năm tiếp theo, Mạc Kính Điển nhiều lần nam tiến nhưng không thu lại được kết quả gì.

Năm 1574 (Nhâm Tuất) khi 14 tuổi, khoa thi chọn thủ khoa Vũ Văn Khuê.

Năm 1576 (Bính Tý) khi 16 tuổi, lấy Nguyễn Thị Thể và phong làm Hoàng hậu

Năm 1577 (Đinh Sửu) khi 17 tuổi, khoa thi chọn thủ khoa Vũ Giới.

Ngày 21/2/1578 (Mậu Dần, Sùng Khánh thứ 13) khi 18 tuổi, sét đánh vào cung bị bại liệt nửa người, sau chữa thuốc lại khỏi, bèn đổi niên hiệu, lấy năm ấy làm năm Diên Khánh thứ 1

Lịch triều hiến chương loại chí lại chép: Năm Sùng Khánh thứ 13 (1578) sét đánh vào cung ông thành ra bán thân bất toại mới đổi niên hiệu. Sau lại bị thong manh mắt mờ, chữa mấy năm mới khỏi.

Năm 1580 (Canh Thìn) khi 20 tuổi, mở khoa thi chọn thủ khoa Đỗ Cung. Tháng 10 Mạc Kính Điển lâm bệnh mất sau 34 năm phụ chính ( cho các ấu chúa nhà Mạc. Mạc Mậu Hợp trao quyền Trung doanh Tổng súy Ứng vương cho một ông chú khác là Mạc Đôn Nhượng (em út của Mạc Kính Điển). Song Mạc Đôn Nhượng vốn là người nhu nhược, thiếu tính quyết đoán nên từ ngày được bổ nhiệm đến 1583 không xuất quân đánh dẹp, trễ nải việc quân, việc triều chính cũng không quán xuyến được như thời Mạc Kính Điển. Mạc Mậu Hợp lại sống xa hoa, kiêu ngạo, hay nghe xiểm nịnh, thường ít lắng nghe lời bàn luận, khuyên can của các bậc lương thần. Vì thế nhiều trọng thần kể cả văn và võ muốn cáo quan về hưu, Mạc Mậu Hợp xin họ ở lại. Quan Thái bảo Giáp Trưng từng khuyên Mạc Mậu Hợp Trí túc bất nhục (Biết đủ thì không nhục), song Mạc Mậu Hợp không nghe theo nên Giáp Trưng xin về. Mậu Hợp cố giữ lại, Giáp Trưng tâu: Tiên Hoàng thường xử: Niên túi tiện quy. Đông các Học sĩ Nguyễn Văn Nhuận cũng có lần đã mạnh bạo tâu với Mậu Hợp: Nếu mọi việc, việc gì cũng không cốt ở sự thực mà chỉ chuộng hư văn, hạ thần sợ rằng việc trong thiên hạ sẽ dồn tới số không hết thảy. Dù được các đại thần có những lời bàn chí lý nhưng Mạc Mậu Hợp không để tâm. Vì thế việc triều chính của nhà Mạc ngày càng sa sút.

Năm 1581 (Tân Tỵ) bị chứng thong manh, mắt mờ không trông rõ, sai mời các thầy thuốc giỏi trong thiên hạ tới chữa, trong vài năm, con mắt lại được bình phục như thường.

Năm 1583 mở khoa thi chọn thủ khoa là Đỗ Tuấn Ngạn.

Năm 1591, Trịnh Tùng khởi đại quân, chia thành nhiều đội đánh ra bắc Mạc Mậu Hợp huy động toàn quân Bắc triều từ 4 trấn được hơn 10 vạn người, hội Hiệp Thượng, Hiệp Hạ để quyết chiến với quân Nam Triều. Mậu Hợp sai Mạc Ngọc Liễn giữ Tây đạo, Nguyễn Quyện giữ Nam đạo, bọn Ngạn quận công, Thủy quận công chỉ huy binh mã Đông đạo; Đương quận công, Xuyên quận công chỉ huy binh mã Bắc đạo; Khuông Định công, Tân quận công chỉ huy binh mã 4 vệ. Mạc Đăng Lượng đưa hàng vạn quân chỉ một đêm đã đào sông và lập nhiều thành lũy ở vùng Duyên Hà (nay là Hậu Tái, Thái Bình), gọi là Sông nhà Mạc và Nhất dạ Thành. Còn tự mình đích thân đốc suất trung quân; hậu đội thì trong có các tông thất họ Mạc và các tướng túc vệ ở Đông đạo đi sau tiếp chiến. Ngày 27/12 quân Mạc đi đến Phấn Thượng gặp quân Lê – Trịnh, cùng dàn trận. Mạc Ngọc Liễn bên phải, Nguyễn Quyện bên trái. Hai bên đánh nhau to suốt từ hôm đó.

Năm 1592 (mùa hè, Nhâm Thìn) mở khoa thi Cử nhân ở bến Bồ Đề, lấy Phạm Hữu Năng và 16 người trúng tuyển.

Ngày (5/Giêng) Trịnh Tùng kéo quân qua cầu Nhân Mục, sông Tô Lịch, đóng ở Sạ Đôi (gò tập bắn). Mạc Mậu Hợp bỏ kinh thành chạy sang Bồ Đề, để Mạc Ngọc Liễn và các tướng ở lại chống giữ. Ngọc Liễn lĩnh quân bản bộ giữ từ cửa Bảo Khánh tới cửa Nhật Chiêu. Sai Trần Bách Niên và Bùi Văn Khuê giữ từ Cầu Da tới Cầu Dền; Nguyễn Quyện giữ từ Mạc Xá sang phía đông kinh thành. Còn mình thì thống suất thủy quân, dàn hơn trăm chiếc thuyền thành thế trận, giữ sống Nhị Hà để làm cứu viện cho quân trong thành.

Ngày (6/Giêng) hai bên hỗn chiến một trận ác liệt ở ô Cầu Dền, từ giờ Tỵ đến giờ Mùi. Trịnh Tùng tiến đến gò tập bắn (Giảng Võ, Hà Nội) bày trận, chia đường cho các tướng tiến đánh. Trịnh Tùng đích thân đốc suất tướng sĩ trèo xuyên qua lũy, trèo lên thành, các tướng sĩ đua nhau xông lên trước, đánh phá được ba lần cửa lũy ở ngoài thành. Trần Bách Niên và Bùi Văn Khuê thua trận bỏ chạy, Nguyễn Quyện đặt phục binh không kịp trỗi dậy nên bị bắt; Mạc Ngọc Liễn cô thế phải bỏ lũy rút lui. Thành Đông Kinh thất thủ. Mậu Hợp thu nhặt tàn quân giữ ở sông Hồng để cố thủ. Trịnh Tùng tuy đánh thắng liên tục nhưng do lực lượng chưa đủ nên đành lui về Thanh Hóa. 

Trịnh Tùng nghe theo, liền hạ lệnh quân sĩ trong mấy ngày liền phát hết bụi rậm gai góc, cày lấp hào rãnh, phá thành thành đất bằng. Mạc Mậu Hợp thấy quân Nam rút, cho rằng quân Nam yếu. Khi trở về kinh thành, ông lại hưởng lạc như cũ, không lo lắng việc phòng chống quân Nam và tổ chức phản công. Tháng 8 Nguyễn Thị Niên (con gái Nguyễn Quyện, vợ tướng Bùi Văn Khuê) vào cung thăm chị là Nguyễn Thị Như Nguyệt (vợ của Mạc Mậu Hợp), ông thấy sắc đẹp của thị Niên nên muốn chiếm đoạt, bèn triệu vào phòng để giữ lại trong cung tới sáng rồi giữ luôn, dự định triệu Bùi Văn Khuê về kinh để giết. Nguyễn Thị Niên sợ hãi bèn sai người hầu cận mật chạy đi báo cho chồng. Bùi Văn Khuê biết chuyện, bèn dẫn quân bản bộ về giữ hạt Gia Viễn, không theo mệnh lệnh của triều đình. Mậu Hợp mấy lần vời cũng không tới, bèn sai tướng dẫn quân tới hỏi tội Văn Khuê.

Tháng 10 Bùi Văn Khuê trưng binh chống giữ, và sai con trai chạy tới hành doanh, yết kiến phủ Trịnh Tùng, khóc lóc tố cáo sự tình, xin đầu hàng và xin cho quân cứu viện. Thế là Bùi Văn Khuê cùng cánh quân thủy, vốn là sở trường của quân Mạc, về hàng Nam triều. Trịnh Tùng bèn sai Hoàng Đình Ái dẫn một đạo quân đi trước, để cứu Bùi Văn Khuê và khởi đại binh theo sau. Biết Văn Khuê đã đầu hàng nhà Lê, lại có quân đến cứu, liền lui về giữ sông Thiên Phái. Một đại tướng khác là Trần Bách Niên thất vọng vì ông nên cũng sang hàng Nam triều. Liên tiếp hơn 10 tướng Mạc sang hàng Lê. Tình hình nhà Mạc ngày càng nguy cấp, khi đó trong triều chỉ còn trông cậy vào một mình Mạc Ngọc Liễn.

Ngày 14/11 quân Nam triều chia hai đường thủy bộ cùng đánh từ Hát Giang. Mạc Ngọc Liễn dàn chiến thuyền chống cự, trồng cột gỗ dưới lòng sông, đắp lũy trên bờ cố thủ. Trận chiến diễn ra ác liệt từ ngày 4 – 14/12 lũy quân Mạc bị quân Nam triều phá, Ngọc Liễn bỏ thuyền chạy về núi Tam Đảo, quân Mạc tan vỡ. Ngày 14/11 (AL), Trịnh Tùng đích thân đốc bộ binh, thừa thế đuổi dài, thủy quân cũng thuận dòng xuôi xuống, tới cửa Nam kinh thành Đông Kinh, đóng tại bến Sa Thảo, bắt được hơn nghìn chiến thuyền, kể cả lớn nhỏ. Đêm đó, Mạc Mậu Hợp bỏ kinh thành Đông Kinh chạy trốn sang Kim Thành (Hải Dương). Hoàng tộc họ Mạc lần lượt tìm đường bỏ trốn, trong khi hàng loạt tướng sĩ nhà Mạc theo nhau đầu hàng quân Nam triều. Từ đây quân của nhà Mạc hết phần chiến đấu, từ sông Hồng trở về Bắc quân sĩ kéo nhau ra quy thuận Nam triều. Trịnh Tùng hạ lệnh đem hơn 300 chiến thuyền đánh phá huyện Kim Thành. Mậu Hợp phải bỏ thành trốn chạy, quân Nam triều thu được rất nhiều vàng bạc của cải, đồ dùng, bắt được Thái hậu nhà Mạc giải về Đông Kinh, khi đến sông Bồ Đề, Thái hậu vì quá sợ mà chết.

Ngày 25/11 (AL), Mạc Mậu Hợp dựng con trai là Mạc Toàn làm vua để giữ việc nước, đổi niên hiệu là Vũ An năm thứ nhất, còn bản thân tự làm tướng, quản đốc binh mã chống giữ quân Nam triều. thủy quân Lê – Trịnh gồm 300 chiến thuyền dánh vào các huyện Kim Thành, Thanh Hà, Nam Sách, Kinh Môn (Hải Dương ngày nay), chính sự nhà Mạc đã không thể cứu vãn được nữa, quân Nam triều đánh quá gấp, trong khi quân đội nhà Mạc thì đã tan rã, nhiều người đã đầu hàng.

Đầu tháng 12 (AL), Trịnh Tùng chia quân đánh các ngả, phá tan quân của một hoàng thân nhà Mạc là Mạc Kính Chỉ, thu được vô số khí giới và sai quân đi truy lùng bắt Mậu Hợp. Khi Trịnh Tùng từ sông Tranh về Thăng Long, nghe có người báo rằng Mạc Mậu Hợp cạo đầu làm sư, hiệu là Võ An, ẩn ở chùa Mô Khuê hạt Phượng Nhãn. Trịnh Tùng bèn sai Nguyễn Đình Luận và Lưu Chản dẫn quân đi tìm bắt. Dân địa phương cho biết: Hôm nọ Mậu Hợp giả làm ông sư, đến ẩn ở đây, đến nay đã 11 ngày. Quân Nam bèn tìm đến chùa. Lúc đó Mạc Mậu Hợp đang nghiễm nhiên ngồi xếp bằng tròn, gạn hỏi thì Mậu Hợp ấm ớ đáp rằng: Bần tăng tu hành từ hồi còn trẻ tuổi ở am mây này; chén muối, đĩa rau hàng ngày trai dưỡng; thắp hương thờ phật, công đức chuyên làm. Quân Nam triều thấy nhà sư nói hoạt bát khiêm tốn, biết là Mậu Hợp, bèn bắt giữ. Ông tự liệu không thể thoát được, bèn thú thực và nói rằng: Mấy ngày trước đây, tôi chạy trốn ẩn núp trong rừng rậm, đã quá đói khát, dám xin cho một bình rượu uống cho đã. Quân sĩ bèn cho bình rượu. Sau khi Mậu Hợp uống thỏa thích, ngậm ngùi than rằng: Nghiệp chướng quá sâu! Nay cầu làm một người dân thường, cũng không thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đã làm sự giết vua cướp ngôi, đến nỗi con cháu ngày nay phải mắc tội nặng như vầy. Mong tướng sĩ dẫn tôi đến trước Hoàng đế, để bầy tỏ thực tình. Đó là lòng tôi rất mong muốn! Quân Nam triều bèn sai dùng voi chở Mậu Hợp và 2 kỹ nữ, giải về Thăng Long. Khi ông tới trước hành doanh, Trịnh Tùng sai dàn binh mã cực kỳ uy nghiêm, rồi mới cho dẫn Mậu Hợp vào yết kiến. Mậu Hợp lễ dập đầu phủ phục ở ngoài sân. Trịnh Tùng truyền hỏi tới 3 lần, Mậu Hợp vì quá sợ, cứ ấm ớ không thể đáp được, Trịnh Tùng bèn sai dẫn ra ngoài cửa quân, giam tù tại đây. Tất cả các quan văn võ của Nam triều đều bàn:Chiếu điều luật, những kẻ phạm tội thoán thí, thì xử theo luật “lăng trì”, để làm gương cho mọi người, và đúng phép nước; lại đem thủ cấp tế cáo nhà Tôn miếu, để rửa sỉ nhục của Tiên vương, và bớt cơn giận của thần nhân.

Năm 1593 Trịnh Tùng thấy Mạc Mậu Hợp về hàng, không nỡ gia cực hình, bèn sai đem treo sống Mậu Hợp 3 ngày, rồi chém đầu tại bãi cát Bồ Đề, đem thủ cấp dâng lên vua Lê Thế Tông tại hành tại Vạn Lại ở Thanh Hoa, đem đóng đinh vào hai con mắt, rồi bêu ra ngoài chợ. Trịnh Tùng ra truy sát tru di cửu tộc nên khắp nơi con cháu phải thay tên đổi họ.

Theo gia phả họ Ngô Mạc Vĩnh Phúc và tâm linh thì ngài Mạc Mậu Hợp thực tế không phải bị bắt ở Chùa Bồ đề sau đưa về Thanh Hóa hành hình đóng đinh vào mắt… như sử nhà Lê đã ghi, thực chất đó là người giả, xác giả được dựng rồi phao tin lên; vua Mạc Mậu Hợp không bị bắt, không dễ bị bắt như vậy… Bên thắng cuộc đương thời, các sử gia Lê – Trịnh viết vậy là để đánh sập ý chí Quan quân, Võ tướng nhà Mạc muốn phục hưng triều Mạc… Các bậc Tiên đế khuyên con cháu họ Mạc hãy tìm ngài linh thiêng xưa ở ẩn các chùa vùng xứ Kinh Bắc.

5. Tham khảo

– Internet

vi.wikipedia.org

baophapluat.vn

nguoikesu.com

– Ấn phẩm

Lịch triều hiến chương loại chí

Đại Việt sử ký toàn thư

Đại Việt thông sử

Đại Việt sử ký tục biên

Khâm định Việt sử thông giám cương mục

Đại Nam quốc lược sử

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *